Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SƠN DƯƠNG

TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 26-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Cường.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Minh Hùng.

2. Ông Ma Quốc Thể.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Trần Thị Minh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Tiến Tùng – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 70/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 77/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 23/2024/HSST-QĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/HSST-QĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với:

1. Bị cáo: PHẠM VĂN KÝ - Sinh ngày: 01-7-1978 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Phạm Văn T (đã chết); Con bà: Bùi Thị M – Sinh năm: 1939; Vợ: Hoàng Thị O – Sinh năm: 1986; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Bị cáo Phạm Văn K bị xử phạt 03 năm tù về tội “Phá hủy công trình phương tiện quan trọng về an ninh Quốc gia” theo Bản án số: 134/2006/HSST ngày 15-02-2006 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Bị cáo Phạm Văn K bị bắt tạm giam ngày 17-3-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T theo Quyết định tạm giam số: 51/2024/HSST-QĐTG ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

2. Bị cáo: NGUYỄN VĂN QUYẾT - Sinh ngày: 02-5-1993 tại huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi cư trú: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Văn T1 – Sinh năm: 1967; Con bà: Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1972; Vợ: Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1991; Con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2020.

Tiền án: Bị cáo Nguyễn Văn Q bị xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” the o Bản án số: 42/2020/HS-ST ngày 26-5-2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án, nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bị cáo Nguyễn Văn Q bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 72/2013/HSPT ngày 14-3-2013 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q bị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 18/2017/HSST ngày 05-4-2017 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q bị xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 16/2018/HS-ST ngày 13-3-2018 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Bị cáo Nguyễn Văn Q bị bắt tạm giam ngày 28-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T theo Quyết định tạm giam số: 50/2024/HSST-QĐTG ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

3. Bị cáo: NGUYỄN ĐỨC GIANG - Sinh ngày: 02-01-1985 tại thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.

Nơi cư trú: Tổ dân phố L, thị trấn G, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông: Nguyễn Đại D – Sinh năm: 1964; Con bà: Nguyễn Thị L – Sinh năm: 1965; Vợ: Hoàng Thị T2 – Sinh năm: 1986; Con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án: Bị cáo Nguyễn Đức G bị xử phạt 02 năm 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 20/2020/HS-ST ngày 21/12/2020 của Tòa án nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án, nhưng chưa được xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Bị cáo Nguyễn Đức G bị xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 44/2004/HSST ngày 15-01-2004 của Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.
  • Bị cáo Nguyễn Đức G bị xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 96/2009/HSST ngày 08-12-2009 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án.

Bị cáo Nguyễn Đức G bị bắt tạm giam ngày 23-5-2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T theo Quyết định tạm giam số: 49/2024/HSST-QĐTG ngày 19 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.

Bị hại: Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T3 – Chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền của ông Phạm Văn T3: Ông Đặng Văn L1 – Chức vụ: Cán bộ phòng Kế hoạch - Kỹ thuật, Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • Bà Nguyễn Thị T4 - Sinh năm: 1979; Nơi ĐKHKTT: Thôn D, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc;Chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố N, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
  • Bà Ngô Thị B - Sinh năm: 1975; Địa chỉ: Thôn Y, xã Đ, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.
  • Bà Bùi Thị B1 - Sinh năm: 1974; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu tháng 3-2024 (không xác định được ngày cụ thể), bị cáo Phạm Văn K rủ bị cáo Nguyễn Văn Q đi trộm cắp dây đồng trong máy biến áp tại Trạm biến áp bơm nước K, thuộc Tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân, bị cáo Q đồng ý.

Khoảng 11 giờ ngày 10-3-2024, bị cáo Q gọi điện thoại rủ bị cáo K đi trộm cắp dây đồng ở Trạm biến áp bơm nước K, bị cáo K đồng ý. Lúc này, bị cáo K đang ở nhà bố mẹ vợ tại xã L, thành phố P, tỉnh Hà Nam đi xe ô tô khách về thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo Q điều khiển xe mô tô của bị cáo Q đến đón bị cáo K. Sau đó, bị cáo Q và bị cáo K cùng nhau đến cửa hàng bán đồ điện nước ở thành phố V mua 01 kìm cộng lực màu đen, 04 chiếc cờ lê, 02 đoạn dây cáp bằng thép mỗi đoạn dài khoảng 03 mét và 01 bao tải dứa màu đen, cho vào 01 ba lô màu đen mang theo làm dụng cụ để trộm cắp tài sản. Trên đường đi, bị cáo Q gọi điện thoại rủ bị cáo Nguyễn Đức G cùng đi trộm cắp, bị cáo G đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn đỏ đen của bị cáo G đến gặp bị cáo Q và bị cáo K cùng nhau xuất phát.

Khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo K, bị cáo Q, bị cáo G đi đến Trạm biến áp Bơm nước K và dựng xe mô tô trên bờ kè sông. Các bị cáo đi bộ đến Trạm biến áp, bị cáo K nhặt một đoạn cây tre khô, dài khoảng 02 mét, đường kính khoảng 02cm đập nhiều nhát vào cầu dao điện ngắt nguồn điện. Tất cả đi lên bờ kè sông ngồi đợi khoảng 30 phút, quan sát thấy không có ai đến kiểm tra, sau đó cùng quay xuống Trạm biến áp. Bị cáo K và bị cáo Q trèo lên vị trí thanh xà ngang đặt máy biến áp, bị cáo G đứng dưới đất cảnh giới và đưa các dụng cụ cho bị cáo K và bị cáo Q tháo máy, dùng dây cáp kéo máy biến áp hạ xuống đất. Bị cáo K, bị cáo Q, bị cáo G dùng cà lê mang theo tháo phá máy lấy 03 cuộn dây đồng bên trong, các bộ phận của máy còn lại để tại hiện trường và vứt bỏ xuống sông. Sau đó, các bị cáo cho 02 cuộn dây đồng vào 01 bao tải dứa màu đen, đặt ở giá để hàng xe mô tô của bị cáo Q, 01 cuộn dây đồng để ở giá đèo hàng của xe mô tô của bị cáo G. Bị cáo Q điều khiển xe mô tô của mình, bị cáo G điều khiển xe mô tô của mình chở bị cáo K về nhà bị cáo Q dùng kìm cắt, gỡ 03 cuộn dây đồng ra. Các bị cáo thống nhất bị cáo Q mang dây đồng đi bán, khi bán được sẽ thông báo cho bị cáo K và bị cáo G đến để chia tiền.

Khoảng 09 giờ 00 ngày 11-3-2024, bị cáo Q chở số dây đồng đến cửa hàng thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị T4 để bán với giá là 160.000đ/1kg. Lúc này, có bà Ngô Thị B cũng là người thu mua phế liệu đến nhà bà T4 cùng cân số dây đồng được 65,1 kg. Bà T4 trả cho bị cáo Q 10.400.000đ. Số tiền bán dây đồng, bị cáo Q đã chia cho bị cáo K, bị cáo G mỗi người 3.300.000đ, bị cáo Q được 3.800.000đ. Bị cáo Q và bị cáo G đã chi tiêu cá nhân hết; bị cáo K chi tiêu cá nhân hết số tiền 2.300.000đ, số tiền 1.000.000đ còn lại đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Số dây đồng, bà T4 bán lại cho bà B. Sau đó, bà B bán lại cho bà Bùi Thị B1. Cơ quan điều tra đã thu giữ được toàn bộ số dây đồng này.

Kết luận định giá tài sản số: 15/KL -HĐĐGTSTTHS ngày 15-3-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang kết luận: 01 (một) máy biến áp công suất 100kVA - 10/0,4kV, sản xuất năm 1994, đưa vào sử dụng năm 2000; 01 (một) dây cáp tổng gồm 04 sợi loại P M3 x 50+1 x 35mm; 01 (một) thanh xà đỡ máy biến áp dài 3,1 mét (loại thép U140 x 58 x 4,8); 01 (một) khóa nhãn hiệu Viettiep, mua mới tháng 01/2023 của Trạm biến áp Bơm nước Kỳ Lâm do Điện lực S quản lý, tính đến thời điểm bị thiệt hại trị giá là 27.580.030 đồng.

Kết luận định giá tài sản số: 31/KL -HĐĐGTSTTHS ngày 27/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện S, tỉnh Tuyên Quang kết luận: 65,1 kilogam đồng (dạng đồng sợi cắt phá từ máy biến áp, là dây cáp tổng gồm 04 sợi loại P M3 x 50+1 x 35mm), tính đến thời điểm bị chiếm đoạt giá là 13.020.000 đồng.

Tại cáo trạng số: 74/CT-VKSSD ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang thực hành quyền công tố, có quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G. Đưa ra chứng cứ đánh giá mức độ hành vi phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo của các bị cáo cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang đề nghị với HĐXX:

Về tội danh: Tuyên bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”; xử phạt bị cáo Phạm Văn K từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Phạm Văn K phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai tội là 02 năm 03 tháng đến 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo K bị bắt tạm giam, ngày 17-3-2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 09 tháng đến 01 năm 03 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai tội là 02 năm 03 tháng đến 03 năm 03 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo Q bị bắt tạm giam, ngày 28-4-2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức G từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức G từ 08 tháng đến 11 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Đức G phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai tội là 01 năm 11 tháng đến 02 năm 08 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo G bị bắt tạm giam, ngày 23-5-2024.

Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589; Điều 357 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G phải bồi thường cho bị hại Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 114.275.000đ. Cụ thể:

  • Bị cáo Phạm Văn K phải bồi thường cho Đ lục S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 38.091.000đ và được khấu trừ số tiền tự nguyện bồi thường 10.000.000đ theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001024 ngày 12-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 28.091.000đ.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q phải bồi thường cho Đ lục S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 38.091.000đ và được khấu trừ số tiền tự nguyện bồi thường 9.000.000đ theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001025 ngày 12-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền 29.091.000đ.
  • Bị cáo Nguyễn Đức G phải bồi thường cho Đ lục S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 38.091.000đ.

Các bị cáo phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T4 số tiền 10.400.000đ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị T4, bà Ngô Thị B, bà Bùi Thị B1 không yêu cầu các bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G phải bồi thường về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, không đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • Trả lại cho bị hại Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T: 01 bao tải màu hồng trong có 65,1 kg kim loại, màu vàng đồng (dạng đồng sợi cắt từ máy biến áp).
  • Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước nhà nước số tiền bị cáo Phạm Văn K phạm tội mà có: Số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Phạm Văn K tự nguyện giao nộp.

Về án phí và quyền kháng cáo: Theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận tại phiên tòa:

Các bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G nhất trí với quan điểm đại diện Viện kiểm sát đưa ra tại phiên tòa.

Quyền của bị cáo được nói lời sau cùng:

  • Bị cáo Phạm Văn K đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng.
  • Bị cáo Nguyễn Đức G đã nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của các bị cáo khai phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá tài sản, vật chứng thu giữ cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Như vậy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 10/3/2024 tại Tổ dân phố K, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang, bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q và bị cáo Nguyễn Đức G đã có hành vi phá hủy 01 máy biến áp của Trạm biến áp Bơm nước Kỳ Lâm do Điện lực S quản lý trị giá 27.580.030đ, để lấy 03 cuộn dây đồng trong máy biến áp trị giá 13.020.000đ.

Các bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi hủy hoại tài sản và trộm cắp tài sản với lỗi cố ý, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Tổng giá trị tài sản các bị cáo hủy hoại là 27.580.030đ; tổng giá trị tài sản các bị cáo trộm cắp là 13.020.000đ. HĐXX đã có đủ căn cứ để kết luận các bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G phạm tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự và tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, các bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo Phạm Văn K tự nguyện bồi thường cho bị hại Điện lực S; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q tự nguyện bồi thường cho bị hại Điện lực S và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị T4; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; ông Nguyễn Văn T5 là ông nội của bị cáo Q được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Đức G có ông nội là Nguyễn Xuân H1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng Ba và ông ngoại là Nguyễn Văn Đ1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ hình phạt khi lượng hình theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[3] Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

  • Bị cáo Phạm Văn K không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q và bị cáo Nguyễn Đức G bị kết án đã chấp hành xong Bản án nhưng chưa được xóa án tích. Các bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Do vậy, các bị cáo Nguyễn Văn Q và bị cáo Nguyễn Đức G phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung: HĐXX xét thấy bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G làm nghề lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Tính chất và mức độ của hành vi phạm tội: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, làm mất trật tự an ninh xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân tại địa phương nói riêng và xã hội nói chung. Bản thân các bị cáo đã nhiều lần bị Tòa án xét xử nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân mà còn tiếp tục phạm tội, thể hiện các bị cáo rất coi thường pháp luật. HĐXX thấy rằng cần lên một mức án nghiêm minh, phù hợp với tính chất, mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra và cách ly bị cáo trong trại cải tạo một thời gian để bị cáo tu dưỡng, rèn luyện trở thành công dân có ích cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh trật tự cũng như phòng ngừa tội phạm trong gia đình, cộng đồng và xã hội.

HĐXX thấy rằng trong vụ án có vai trò đồng phạm giản đơn tham gia. Bị cáo Q và bị cáo K cùng khởi sướng và chuẩn bị phương tiện phạm tội; cả 03 bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội; bị cáo G đồng phạm với vai trò giúp sức. Do vậy, vai trò của bị cáo Q và bị cáo K ngang bằng nhau; vai trò của bị cáo G thấp hơn.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

  • Bị hại Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T yêu cầu bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G phải bồi thường thiệt hại số tiền là 114.275.000đ. HĐXX xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo xâm phạm đến tài sản của Điện lực S gây thiệt hại nên cần buộc các bị cáo phải bồi thường cho bị hại. Các bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G nhất trí với yêu cầu bồi thường của bị hại. Do vậy, buộc bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G bồi thường thiệt hại cho bị hại Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền là 114.275.000đ và phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định của pháp luật.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T4 số tiền 10.400.000đ. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị T4, bà Ngô Thị B, bà Bùi Thị B1 không yêu cầu các bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G phải bồi thường về phần trách nhiệm dân sự. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.

[7] Về vật chứng:

  • Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang tạm giữ 01 bao tải có chứa 65,1kg kim loại, màu vàng đồng. Qua kết quả xác minh, xác định toàn bộ số kim loại trên là đồng sợi cắt từ máy biến áp thuộc quyền quản lý của Điện lực S. Bị hại có đề nghị trả lại cho Điện lực Sơn Dương số tài sản trên. Do vậy, HĐXX trả lại tài sản 01 bao tải có chứa 65,1kg kim loại, màu vàng đồng cho Điện lực S quản lý là có căn cứ.
  • Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Văn K tự nguyện giao nộp số tiền 1.000.000₫ là tiền do phạm tội mà có. HĐXX xét thấy, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước là có căn cứ.

[8] Về án phí:

  • Buộc bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Khấu trừ vào số tiền 200.000₫ theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Đức G còn phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  • Bị cáo Phạm Văn K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường là: 28.091.000đ x 5% = 1.404.550đ.
  • Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường là: 29.091.000₫ x 5% = 1.454.550đ.
  • Bị cáo Nguyễn Đức G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải bồi thường là: 38.091.000đ x 5% = 1.904.550đ.

Theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”

[9] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10] Về hành vi tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX nhận thấy Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện hành vi, quyết định tố tụng về khởi tố vụ án, khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giam, ra quyết định truy tố; thu thập chứng cứ tài liệu, vật chứng đã khách quan, phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[11] Các vấn đề khác:

  • Đối với bà Nguyễn Thị T4, bà Ngô Thị B, bà Bùi Thị B1 khi mua số dây đồng không biết là tài sản do phạm tội mà có nên không đề cập xử lý.
  • Quá trình giải quyết, bị cáo Nguyễn Văn Q đã bồi thường cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T4 số tiền 10.400.000đ. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Đức G tự nguyện thỏa thuận: Bị cáo bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Đức G mỗi bị cáo trả cho bị cáo Nguyễn Văn Q số tiền 3.467.000đ và không đề nghị HĐXX ghi nhận sự thỏa thuận của các bị cáo. Do vậy, HĐXX không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Về tội danh và hình phạt:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1 Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Hủy hoại tài sản”; xử phạt bị cáo Phạm Văn K 09 (chín) về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Phạm Văn K phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo K bị bắt tạm giam, ngày 17-3-2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Hủy hoại tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 09 (chín) về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng. Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo Q bị bắt tạm giam, ngày 28-4-2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 178; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 55; Điều 58 Bộ luật hình sự. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức G phạm tội “Hủy hoại tài sản” và tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức G 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Hủy hoại tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức G 09 (chín) về tội “Trộm cắp tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Đức G phải chấp hành tổng hình phạt của cả hai tội là 02 (hai) năm 03 (ba) tháng Thời hạn từ tính từ ngày bị cáo G bị bắt tạm giam, ngày 23-5-2024.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 589; Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G phải bồi thường cho bị hại Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 114.275.000đ. Cụ thể:

  • Ghi nhận số tiền 10.000.000đ bị cáo Phạm Văn K đã nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang để bồi thường thiệt hại cho phía bị hại. Chuyển số tiền 10.000.000đ do bị cáo Phạm Văn K nộp theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang cho Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T để bồi thường thiệt hại.
  • Buộc bị cáo Phạm Văn K phải bồi thường cho Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 38.091.000₫ được khấu trừ vào số tiền 10.000.000đ theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (bị cáo Phạm Văn K còn phải bồi thường tiếp số tiền 28.091.000₫).
  • Ghi nhận số tiền 9.000.000₫ bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp vào Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang để bồi thường thiệt hại cho phía bị hại. Chuyển số tiền 9.000.000đ do bị cáo Phạm Văn K nộp theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang cho Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T để bồi thường thiệt hại.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải bồi thường cho Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 38.091.000đ được khấu trừ vào số tiền 9.000.000đ theo Biên lai thu tiền ký hiệu: BLTT/23, số: 0001025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang (bị cáo Phạm Văn K còn phải bồi thường tiếp số tiền 29.091.000₫).
  • Bị cáo Nguyễn Đức G phải bồi thường cho Đ lục S – Công ty Điện lực tỉnh T số tiền 38.091.000đ.

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Trả lại cho bị hại Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T:

01 bao tải màu hồng trong có 65,1 kg kim loại, màu vàng đồng (dạng đồng sợi cắt từ máy biến áp).

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/6/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước nhà nước số tiền bị cáo Phạm Văn K phạm tội mà có:

Số tiền 1.000.000 đồng của bị cáo Phạm Văn K tự nguyện giao nộp.

Số tiền trên đã được Kho bạc Nhà nước huyện S, tỉnh Tuyên Quang chuyển từ tài khoản số 3591.0.9047103.00000 (tài khoản tạm gửi của Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang) đến tài khoản số 3949.0.1064844.00000 (tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang).

(Theo Công văn số: 303/CV-CQCSĐT ngày 19/3/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, tỉnh Tuyên Quang).

Về án phí:

  • Buộc bị cáo Phạm Văn K đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Phạm Văn K còn phải nộp 1.404.550 án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q đã nộp xong án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn Q còn phải nộp 1.454.550đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.
  • Buộc bị cáo Nguyễn Đức G phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.904.500đ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Về quyền kháng cáo:

Bị cáo bị cáo Phạm Văn K, bị cáo Nguyễn Văn Q, bị cáo Nguyễn Đức G; có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26-8-2024).

Bị hại Điện lực S – Công ty Điện lực tỉnh T Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án Nguyễn Thị T4, bà Ngô Thị B, bà Bùi Thị B1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND huyện Sơn Dương;
  • - VKSND tỉnh Tuyên Quang;
  • - Công an huyện Sơn Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Tuyên Quang;
  • - Chi cục THADS huyện Sơn Dương;
  • - Lưu hs, hstha, vp.

T-M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Việt Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự sơ thẩm về tội "hủy hoại tài sản" và tội "trộm cắp tài sản"

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Hủy hoại tài sản" và tội "Trộm cắp tài sản"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Ký, Nguyễn Văn Quyết, Phạm Văn Giang
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger