Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2023/HS-ST

Ngày: 25/10/2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Đỗ Thị Hương Lan.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hảo

Bà Đinh Thanh Hoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Sơn- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Bùi Tuấn Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023 tại Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Chí T; tên gọi khác: không; sinh ngày 01/9/1977 tại huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi đăng ký thường trú: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; chỗ ở: khu B, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Phạm Thị K; có 02 con; Tiền án, tiền sự: không có;

Nhân thân: ngày 11/12/1998, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt 15 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;

Ngày 29/02/2000, bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;

Ngày 14/8/2007, bị Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;

Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 18/7/2023, hiện đang bị tạm giam, từ ngày 27/7/2023, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố M; có mặt tại phiên tòa.

*/ Bị hại: Ngô Văn H, sinh năm 1993; địa chỉ: khu B, phường K, thành phố M, Q đơn xin xét xử vắng mặt.

*/ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • - Nguyễn Văn Q năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninhcó đơn xét xử vắng mặt.
  • - Nguyễn Duy T1sinh năm 1980; địa chỉ: tổ B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; có mặt.
  • - Phạm Thị Đ năm 1950; địa chỉ: tổ B, thành phố T, tỉnh Thái Bình; có đơn xin xét xử vắng mặt.

*/ Người làm chứng: N, L5

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối năm 2018, Nguyễn Chí T1 thành phố Mlàm công nhân ở bãi kiểm hóa Cửa khẩu B và thuê phòng trọ số 02, dãy trọ số 78, ở khu B, phường K, thành phố M ở. Khoảng đầu tháng 7/2022, T2 phòng trọ số 01 của anh Ngô Văn H1 bên cạnh, đóng cửa, phía trước cửa có dựng 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 14K1-088.22, vẫn cắm chìa khóa ở ổ khóa điện, nên T3 chìa khóa xe, mục đích sẽ đưa lại cho anh HNhưng sau đó, do không có tiền ăn tiêu, nên T4 sinh ý định giữ lại chiếc chìa khóa xe, để khi anh H2 hở sẽ lấy trộm xe mô tô đem cầm cố lấy tiền ăn tiêu.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, khi T5 ở phòng trọ, thì phát hiện thấy phòng trọ của anh H3 cửa, xe mô tô biển số 14K1-088.22, dựng ở phía trước cửa phòng trọ, không có người trông, T6 gọi điện thoại nhờ qua anh Thò Mí P (sinh năm 2004, trú tại thôn S, xã S, huyện Đ, tỉnh Hà Giang để gọi cho anh Ngô Văn Q1(là bạn làm cùng) nói là “vừa bắt nợ được xe máy, có cả giấy tờ xe” và nhờ anh Q1đến phòng trọ của T7 đem xe máy về lán ở của anh Q1cất giữ hộ, anh Q1đồng ý. Sau đó, T8 theo chìa khóa xe lấy được trước đó rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, biển số 17F6-8588, đến khu lán ở của anh Q1đón và chở anh Q1đi về phòng trọ của TKhi còn cách phòng trọ của T9 20m, Tdừng xe lại, thấy phòng trọ của anh H4 đóng cửa, xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đen, biển số 14K1-088.22, dựng ở phía trước cửa, nên bảo anh Q1xuống xe rồi đưa chìa khóa xe mô tô của anh H5 anh Q2 bảo anh Q1điều khiển xe mô tô biển số 14K1-088.22, đem về lán ở của anh Q3 tin tưởng Tnên anh Q1đi đến chiếc xe mô tô biển số 14K1-088.22, dùng chìa khóa do T10, cắm vào ổ khóa điện, ấn nút đề nổ máy xe và điều khiển xe đi về lán ở của anh Q1ở khu E, phường H, thành phố M phòng trọ đi ngủ. Khoảng 09 giờ ngày 16/7/2023, T1 lán ở của anh Q1lấy xe mô tô và mở khóa yên xe kiểm tra, thấy trong cốp có đăng ký xe, rồi điều khiển xe đi đến phòng trọ của anh Lê Văn L1 khu E, phường H, thành phố M. Tiếp đến, khoảng 06 giờ 30 phút ngày 17/7/2023, Tđến phòng trọ của anh Lllấy xe mô tô biển số 14K1-088.22 và điều khiển xe đi đến hiệu cầm đồ “Ngọc A ở số A thôn T, xã Q, huyện Đ, của anh Nguyễn Văn Q4 cố lấy 6.000.000 đồng và đưa đăng ký xe mô tô của anh H5 anh Q, rồi đi về phòng trọ của TSau khi phát hiện bị mất xe mô tô, ngày 16/7/2023, anh Ngô Văn H6 Công an trình báo.

Qua thông tin do mọi người cung cấp Công an kiểm tra phòng trọ của T11 giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 17F6-8588; 01 đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Thị Đ1 tiền 6.000.000 đồng; 01 hóa đơn cầm đồ ngày 17/7/2023 đối với xe mô tô biển số 14K1-088.22, người cầm cố tài sản là Nguyễn Chí T12 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, gắn sim số 0983.781.377 và đưa Nguyễn Chí T13 trụ sở làm việc. Ngoài ra, Công an còn thu giữ 01 mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 14K1-088.22 và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang tên Ngô Văn H, do anh Nguyễn Văn Q6 giao nộp.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 509/KL-HĐĐGTS ngày 18/7/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng thành phố Mkết luận: xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đen, biển số 14K1-088.22, trị giá 11.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: ngày 26/7/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đen, biển số 14K1-088.22 và chứng nhận đăng ký xe mô tô cho anh Ngô Văn H

Đối với: số tiền 6.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Chí TCơ quan điều tra đã gửi tại Kho bạc Nhà nước thành phố M01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển số 17F6-8588 và 01 đăng ký xe mô tô mang tên Phạm Thị Đ2 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc, gắn sim số 0983.781.377, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng, chờ xử lý theo quy định. Còn 01 hóa đơn cầm đồ ngày 17/7/2023, đối với xe mô tô biển số 14K1-088.22, người cầm cố tài sản là Nguyễn Chí T14 lưu trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 89/CT-VKSMC ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố bị cáo Nguyễn Chí T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Chí T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản Cáo trạng đã nêu. Tkhai khi gửi xe mô tô ở phòng trọ của anh Lê Văn L2 khi cầm cố xe cho anh Nguyễn Văn Q7 nói là xe do trộm cắp mà có, nên các anh L3 biết.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại Ngô Văn H có quan điểm đã nhận lại tài sản là chiếc xe moto Yamaha Exciter màu trắng đen BKS 14K1-088.22 và không có yêu cầu về bồi thường, đề nghị xét xử bị cáo theo quy định.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn Q8 lời khai: anh nhận cầm cố xe mô tô Yamaha Exciter màu trắng đen BKS 14K1-088.22 do T mang đến. Anh không biết nguồn gốc chiếc xe là do T15 cắp mà có nên anh đã đưa cho T6.000.000đ, nay anh yêu cầu T16 trả lại cho anh số tiền 6.000.000 đồng.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Duy T17 mặt; bà Phạm Thị Đ3 mặt nhưng đều có chung quan điểm như sau: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 17F6-8588, đăng ký xe mang tên Phạm Thị ĐBà Đ4 cho anh Nguyễn Duy T18(là em trai ruột của T19 chưa sang tên. Bị cáo T20 xe đi và đã thực hiện hành vi phạm tội, chiếc xe bị thu giữ nên bà Đ5 anh T1đề nghị xem xét trả lại chiếc xe mô tô trên để anh T1được tiếp tục sử dụng.

Người làm chứng là anh Ngô Văn Q1Thò Mí P1 và Lê Văn L4 vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai có trong hồ sơ xác định: Ngày 15/7/2023, Nguyễn Chí T21 thoại cho T2 Mí Pó để nói chuyện với Ngô Văn Q9 đó Ngô Văn Q1đi cùng Nguyễn Chí T22 xe máy hiệu Yamaha Exciter màu trắng đen BKS 14K1-088.22 của anh Ngô Văn H7 với Q1xe máy này là của Tbắt nợ được. Tkhông nói cho P và Q1biết việc T23 đoạt xe máy; Đến ngày 16/7/2023 T24 xe máy trộm cắp đến chỗ ở của L6. L1không biết chiếc xe này là tài sản do Tphạm tội mà có. Cả Q1 P và L1không được hưởng lợi từ việc phạm tội của T

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 12 tháng đến 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 18/7/2023.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản là chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu trắng đen BKS 14K1-088.22 cho bị hại, nên không đề cập xử lý. Đối với các vật chứng còn lại, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc gắn sim 0983.781.377 là công cụ bị cáo dùng liên lạc thực hiện hành vi phạm tội; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 17F6-8588 thu giữ của Nguyễn Chí T25 ký xe mang tên Phạm Thị ĐBà Đ4 cho anh Nguyễn Duy T18(là em trai ruột của T19 chưa sang tên, là tài sản của anh T18 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại chiếc xe này cho anh Nguyễn Duy T18 Đối với số tiền 6.000.000đ thu giữ của bị cáo, đây là tiền bị cáo có được do cầm cố xe mô tô đã trộm cắp cho anh QAnh Q8 yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền này nên cần xem xét trả lại số tiền trên cho anh Nguyễn Văn Q6

Về trách nhiệm dân sự: bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự nên không xem xét giải quyết.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo không tranh luận gì với bản luận tội mà kiểm sát viên trình bày tại phiên tòa. Nói lời sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng là bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng, thấy rằng những người này đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai và có đơn xin xét xử vắng mặt nên việc vắng mặt của họ không trở ngại cho việc xét xử, do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng trên.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung đã khai nhận tại cơ quan điều tra cùng với các tài liệu chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ để kết luận bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, tại khu B, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng NinhNguyễn Chí Tcó hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đen, biển số 14K1-088.22, trị giá 11.000.000đ (mười một triệu đồng) của anh Ngô Văn H

Hành vi của bị cáo Nguyễn Chí T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái đã truy tố là có căn cứ và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy cần phải có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, lấy giáo dục riêng để phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: không có. Tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, đã ba lần bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, nhưng không lấy đó là bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vì vậy Hội đồng xét xử sẽ xem xét trước khi quyết định hình phạt đối với vị cáo.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Chí T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả cho bị hại nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu hồi được tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt trả lại cho người bị hại. Người bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 17F6-8588 thu giữ của Nguyễn Chí T25 ký xe mang tên Phạm Thị ĐBà Đ4 cho anh Nguyễn Duy T18(là em trai ruột của T19 chưa sang tên. Đây là tài sản của anh T18 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại chiếc xe này cho anh Nguyễn Duy T18. Đối với 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc gắn sim 0983.781.377 là công cụ bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước, tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0983.781.377. Đối với số tiền 6.000.000đ thu giữ của bị cáo, đây là tiền bị cáo có được do cầm cố xe mô tô đã trộm cắp cho anh QAnh Q8 yêu cầu bị cáo phải trả cho anh số tiền này nên cần xem xét trả lại số tiền trên cho anh Nguyễn Văn Q6

[7] Trong vụ án này, Thò Mí P có hành vi cho mượn điện thoại để Tgọi điện cho Ngô Văn Q1bảo Q1đi xe máy về lán cất giữ hộ, nhưng không biết việc T23 đoạt tài sản nên không cấu thành tội phạm; Ngô Văn Q1 có hành vi lấy và điều khiển xe mô tô biển số 14K1-088.22 đem về lán ở cất giữ hộ; Lê Văn L1có hành vi cho Tgửi xe mô tô và anh Nguyễn Văn Q6 có hành vi cầm cố xe mô tô, nhưng không biết là xe do phạm tội mà có, nên không cấu thành tội phạm vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

[8] Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Nguyễn Chí T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chí T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng: khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Chí T 18 (mười tám) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 18/7/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: áp dụng dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0983.781.377.
  • - Trả cho anh Nguyễn Duy T26 năm 1980; địa chỉ: tổ B, thành phố T, tỉnh Thái Bình01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu nâu BKS 17F6-8588 và 01 đăng ký xe mang tên Phạm Thị Đ6
  • - Trả cho anh Nguyễn Văn Q năm 1995; địa chỉ: thôn T, xã Q, huyện Đ, tỉnh Quảng Ninhsố tiền 6.000.000đ (sáu triệu đồng).

Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 02/2024/THA ngày 03/10/2023.

Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016, quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Chí T27 nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: áp dụng khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại nơi thường trú. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày Bản án được niêm yết tại nơi thường trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - Đội hồ sơ nghiệp vụ CA thành phố Móng Cái;
  • - CCTHADS thành phố Móng Cái;
  • - Cơ quan quản lý TG, TG CA thành phố Móng Cái;
  • - Bị cáo; bị hại; người có ql,nvlq
  • - THA, Lưu VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hương Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2023/HS-ST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 96/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 21 giờ 30 phút ngày 15/7/2023, tại khu 2, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Chí Thành có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, màu trắng-đen, biển số 14K1-088.22, trị giá 11.000.000đ (mười một triệu đồng) của anh Ngô Văn Hải.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger