|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/DS-ST Ngày: 25-4-2024 V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Thanh Thủy;
- Ông Phạm Hồng Hải.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Ngọc Thanh Trúc - Kiểm sát viên
Ngày 25 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 333/2023/TLST-DS ngày 20 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 26/2024/QĐST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Thang Vị T, sinh năm 1934.
Địa chỉ: 2 N, Phường H, Quận A, Tp . (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Kim K, sinh năm 1971
Địa chỉ: 4 S, Phường A, Quận A, Tp . (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong kiện đơn khởi ngày 15 tháng 8 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Thang Vị T trình bày:
Do bà Nguyễn Kim K trước đây là hàng xóm đối diện nhà của ông nên có mối quan hệ thân quen, vì vậy ông đã cho bà K vay tiền, cụ thể các lần vay như sau:
- Ngày 22/10/2020 vay số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, thời hạn vay là hai tháng kể từ ngày vay tiền.
- Ngày 05/11/2020 vay số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng, thời hạn vay là hai tháng kể từ ngày vay tiền.
- Ngày 12/11/2020 vay số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, thời hạn vay là hai tháng kể từ ngày vay tiền.
- Ngày 25/11/2020 vay số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng, thời hạn vay là một tháng kể từ ngày vay tiền.
- Ngày 16/12/2020 vay số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, thời hạn vay là hai tháng kể từ ngày vay tiền.
Tổng số tiền mà bà K đã vay là 210.000.000 (hai trăm mười triệu) đồng, tất cả các lần giao nhận tiền đều diễn ra tại nhà của ông ở địa chỉ ở 2 N, Phường H, Quận A. Những lần vay tiền bà K đều viết giấy tay, nêu thời gian trả nợ và hứa sẽ trả cho ông 10.000.000 đồng tiền lãi. Tuy nhiên sau khi vay tiền, bà K đã cắt đứt liên lạc với ông, không trả lãi như đã hứa và đến nay không trả nợ gốc cho ông. Vì vậy, ông khởi kiện yêu cầu bà K phải trả cho ông số tiền đã vay là 210.000.000 (hai trăm mười triệu) đồng.
- Bị đơn bà Nguyễn Kim K đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp chứng cứ và hoà giải cũng như các văn bản tố tụng khác nhưng bà K không nộp tài liệu, chứng cứ cũng như không có văn bản trình bày ý kiến liên quan đến việc giải quyết vụ án vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng và xét xử vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu quan điểm về việc tuân thủ pháp luật về tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử từ giai đoạn thụ lý đến khi nghị án là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định pháp luật về tố tụng, tuy nhiên bị đơn đã được Tòa án tống đạt các văn bản pháp luật nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay là vi phạm quy định pháp luật về tố tụng.
Về nội dung: Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với số tiền nợ gốc 210.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tục tố tụng: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định quan hệ tranh chấp giữa ông T và bà K là “Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn bà Nguyễn Kim K có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 24/4/2024, ông Thang Vị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T.
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà K.
[2]. Về yêu cầu của nguyên đơn:
Xét thấy, giấy ghi nội dung xác nhận vay tiền, cụ thể: Số tiền 50.000.000 đồng ngày 22/10/2020, số tiền 70.000.000 đồng ngày 05/11/2020, số tiền 40.000.000 đồng ngày 12/11/2020, số tiền 10.000.000 đồng ngày 25/11/2020, số tiền 40.000.000 đồng ngày 16/12/2020, tất cả các giấy trên đều có chữ ký và ghi tên của bà Nguyễn Kim K là chứng cứ ông T nộp cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Bà K đã được tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ. Tuy nhiên, bà K vắng mặt trong quá trình Tòa tiến hành tố tụng và không có văn bản phản đối chứng cứ do ông T đưa ra nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ mà ông T nộp cho Tòa án để xét xử vụ án.
- Đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền nợ gốc: Căn cứ vào các giấy ghi nội dung vay tiền có cơ sở xác định bà Nguyễn Kim K có vay của ông T với tổng số tiền 210.000.000 (hai trăm mười triệu) đồng.
Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn”. Mặc dù các bên thỏa thuận bà K phải có nghĩa vụ trả nợ cho ông T vào một hoặc hai tháng sau ngày vay (tùy vào từng lần vay), nhưng cho đến nay đã quá thời hạn trả nợ mà bà K cũng không thực hiện bất kỳ đợt thanh toán nào là vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận. Vì vây, yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền gốc là có căn cứ nên được hội đồng xét xử chấp nhận.
- Ông T cho rằng, bà K hứa trả cho ông 10.000.000 đồng tiền lãi sau mỗi lần viết giấy vay nợ. Tuy nhiên thực tế ông chưa nhận được bất kỳ số tiền lãi nào, hơn nữa các đương sự không yêu cầu giải quyết về tiền lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 5 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Buộc bà Nguyễn Kim K có nghĩa vụ trả cho ông Thang Vị T tổng số tiền gốc là 210.000.000 (hai trăm mười triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Án phí dân sự sơ thẩm: 10.500.000 (mười triệu năm trăm nghìn) đồng, bà Nguyễn Kim K chịu.
Ông Thang Vị T được miễn án phí theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Lan |
Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 96/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp về hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
