TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ -TP ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HS-ST
Ngày: 24-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trình
Ông Phạm Hồng Đức
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hòa - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 87/2024/TLHS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Ngô Anh T, sinh ngày 06/11/2000 tại Kon Tum; Nơi thường trú: Tổ D phường L, thành phố K, tỉnh Kon Tum, Nơi ở hiện tại: Số A đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ngô Văn V và bà Trần Thị Tuyết P; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
- Lê Đoàn Đình T1, sinh ngày 03/10/2000 tại Kon Tum; Nơi thường trú: Thôn K, xã N, huyện Đ, tỉnh Kon Tum. Nơi ở hiện tại: Số A đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đình T2 và bà Đoàn Thị B; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024, có mặt tại phiên tòa.
Bị bắt quả tang, tạm giam từ ngày 05/4/2024, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Tuấn D - Sinh năm 2002. Nơi cư trú: Số E đường T, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- Bà Nguyễn Thị D1 - Sinh năm: 1974. Nơi cư trú: Số A đường N, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
- Người chứng kiến: Ông Trương Văn M - Sinh năm: 1972. Nơi cư trú: Tổ G phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 00 phú, ngày 05/4/2024, Ngô Anh T gọi điện thoại cho bạn là Nguyễn Tuấn D để rủ D đến phòng trọ của T ở địa chỉ: P, số A đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng để chơi game và sử dụng ma túy đá thì D đồng ý. Sau đó, T đi đến khu vực trước Bến xe Trung tâm Đ tìm gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch) mua ma túy đá với giá 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng), nhằm mục đích sử dụng. Sau khi có ma túy, T đem ma túy về phòng trọ của mình để cất giấu. Đến khoảng 17 giờ 30, Lê Đoàn Đình T1 là bạn cùng thuê phòng ở với T (tại phòng trọ số D, địa chỉ A N) đi làm về và vào phòng ngủ. Khoảng 18 giờ 00 phút, D đến phòng trọ cùng ngồi chơi game với T. Khoảng 21 giờ 00 phút, T1 ngủ dậy và chuẩn bị đi tắm thì T1 nhìn thấy T và D đang ngồi chơi game. Sau khi tắm xong, T1 nhìn thấy T lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để trên bàn và lấy ra một gói ma túy. D nhìn thấy T soạn ma túy ra để sử dụng nên đến ngồi bên cạnh T. T gọi T1 đến cùng sử dụng ma túy với T và D thì T1 đồng ý và đến ngồi bên cạnh T và D. T đổ ma túy vào ống thủy tinh (nỏ), ma túy còn lại T để trên bàn để tiếp tục sử dụng. T dùng bật lửa đốt ma túy hút trước, sau đó T tiếp tục đốt ma túy cho D và T1 cùng hút. Sau khi sử dụng ma túy xong thì T để bộ dụng cụ sử dụng ma túy trên bàn. T1 tiếp tục lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đốt ma túy lên hút. Sau đó cả ba người cùng ngồi chơi game.
Đến khoảng 22 giờ 30 phút, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ tại khu nhà trọ địa chỉ: Số A N, quận C, thành phố Đà Nẵng, lực lượng Công an quận C phát hiện T, T1, D đang ngồi trong phòng trọ số 4, trên bàn có bộ dụng cụ sử dụng ma túy và 01 gói ma túy đá nên tiến hành kiểm tra. Khi phát hiện có lực lượng Công an, T1 cầm lấy ống thủy tỉnh (nỏ) chạy vào phòng vệ sinh rồi vứt xuống đường cống thoát nước. Ngay sau đó thì T, T1 và D bị lực lượng Công an bắt giữ.
Tại Cơ quan Công an quận C, kết quả test nhanh ma túy qua nước tiểu của Ngô Anh T, Lê Đoàn Đình T1 và Nguyễn Tuấn D là dương tính với ma túy tổng hợp. Cơ quan Công an tiến hành thu mẫu nước tiểu của T, T1 và D để phục vụ trưng cầu giám định.
Tang vật tạm giữ:
- 01 gói nilon, kích thức khoảng (2x1,5) cm, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể, niêm phong ký hiệu A.
- 01 bật lửa.
- 01 chai nhựa có nắp màu xanh, được đục 2 lỗ tròn, một lỗ có gắn ống hút màu vàng.
- 01 điện thoại di động Iphone 6 plus, sim 0938252756 (thu giữ của Lê Đoàn Đình T1).
- 01 điện thoại di động Iphone 11, sim 0365284104 (Thu giữ của Ngô Anh T)
Tại kết luận giám định 285/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ xác định:
- Chất tỉnh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng tỉnh thể mẫu A: 0,269 gam.
- Trong mẫu nước tiểu ghi thu của Ngô Anh T, Lê Đoàn Đình T1 và Nguyễn Tuấn D ký hiệu lần lượt 01,02 và 03 gửi giám định đều tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine.
Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 90/CT-VKSCL ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T mức hình phạt từ 8 năm đến 9 năm tù; xử phạt bị cáo T1 mức hình phạt từ 7 năm đến 8 năm tù;
Về xử lý vật chứng:
Đối với Mẫu giám định và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong theo kết luận giám định số: 285/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ; 01 chai nhựa có nắp màu xanh, được đục 2 lỗ tròn, một lỗ có gắn ống hút màu vàng và 01 bật lửa, là công cụ dùng vào việc phạm tội, nên đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, gắn sim 0938252756, số IMEI 355735077060731 là tài sản của T1, không liên quan tội phạm, đề nghị HĐXX trả lại cho bị cáo T1 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, gắn sim số 0365284104, số IMEI 352856110107132 là tài sản của T; đây là công cụ mà bị cáo T sử dụng liên lạc tổ chức sử dụng trái phép ma túy nên đề nghị HĐXX tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho các đối tượng hiện chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra nhận định tách ra xử lý sau.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Các bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt.
Về nói lời sau cùng:
Các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 trình bày trong thời gian bị tạm giam, các bị cáo rất ăn năn, hối lỗi về hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để có cơ hội làm lại cuộc đời, sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa, bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của các bị cáo phù hợp với vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định:
Lúc 22 giờ 30 phút ngày 05/4/2024 tại phòng trọ số D số A đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 đã thực hiện các hành vi bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện, cung cấp ma túy, điểm, dụng cụ... để tổ chức cho bản thân Tuấn, T1 và Nguyễn Tấn D2 sử dụng trái phép chất ma túy và đã bị bắt quả tang. Tại kết luận giám định số 285/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phân viện khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, xác định: Chất tinh thể màu trắng trong bì thư niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, trọng lượng 0,269gam;
Quá trình điều tra, bị cáo T và T1 tự khai nhận vào ngày 02/4/2024 cả hai cùng nhau tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý tại phòng trọ số D số A đường N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng.
Do đó, hành vi của các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo thì thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền của nhà nước về quản lý các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ ma túy là chất gây nghiện cao, có tác hại nghiêm trọng đến sức khỏe con người và sự phát triển của nòi giống dân tộc, tiêu tốn về kinh tế. Đồng thời, ma túy còn là nguyên nhân làm phát sinh tội phạm nguy hiểm và các tệ nạn xã hội khác như HIV...; nhưng các bị cáo vẫn cố ý tụ tập, tổ chức, tạo điều kiện cho việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhằm phục vụ lợi ích nhu cầu cá nhân của bản thân.
Đây là vụ án đồng phạm, tuy nhiên giữa các bị cáo không có sự cấu kết chặt chẽ nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Xét vai trò, hành vi của từng bị cáo thì thấy: Trong vụ án này bị cáo Ngô Anh T là người trực tiếp rủ rê T1 và D2, góp số tiền 200.000 đồng đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy, bỏ ma túy vào nỏ và đốt lên để bị cáo và bị cáo T1, D2 sử dụng. Đối với Lê Đoàn Đình T1 khi nhìn thấy bị cáo T soạn dụng cụ và ma túy để sử dụng cùng với D2 và khi được T rủ cùng sử dụng ma túy tại nơi ở của mình thì T1 đồng ý, khi bị lực lượng công an kiểm tra thì T1 đem vứt ống thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy) để phi tang. Như vậy, bị cáo T có vai trò chủ yếu trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung, trong đó cần xử phạm bị cáo T mức hình phạt cao hơn bị cáo T1.
[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 đã thành khẩn khai báo và tự thú. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đây là tiết tình giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo T và bị cáo T1.
[4] Tại phiên tòa, mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đề nghị áp dụng cho các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 là có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo như đã phân tích nêu trên, nên được HĐXX chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 Mẫu giám định và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong theo kết luận giám định số: 285/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ, là chất cấm lưu hành nên HĐXX tịch thu tiêu hủy.
- Đối 01 chai nhựa có nắp màu xanh, được đục 2 lỗ tròn, một lỗ có gắn ống hút màu vàng và 01 bật lửa, đây là các công cụ T, N, S và B1 dùng để sử dụng ma túy, không có giá trị sử dụng, nên HĐXX tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone 6 plus, gắn sim 0938252756, số IMEI 355735077060731 là tài sản của T1, không liên quan tội phạm, trả lại cho bị cáo T1 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, gắn sim số 0365284104, số IMEI 352856110107132 là tài sản của T; đây là công cụ mà bị cáo T sử dụng liên lạc tổ chức sử dụng trái phép ma túy nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[6] Đối với đối tượng có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo T, do không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan điều tra công an quận C tách đối tượng nói trên ra để tiếp tục điều tra, xác minh và xử lý sau là có cơ sở, nên HĐXX không xem xét.
[7] Đối với bà chủ nhà trọ bà D1 không biết các bị cáo sử dụng ma tuý nên không đề cập xử lý
[8] Ngô Anh T, Lê Đoàn Đình T1 và Nguyễn Tuấn D đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an quận C đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với T, T1, D là có cơ sở, nên HĐXX không xem xét.
[9] Về án phí: Các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
1.1. Căn cứ: điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Ngô Anh T ( ) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
1.2. Căn cứ: điểm a,b khoản 2 Điều 255; Điểm s, r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Lê Đoàn Đình T1 ( ) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/4/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tuyên:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 01 Mẫu giám định và vỏ bao gói hoàn trả sau giám định được niêm phong theo kết luận giám định số: 285/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của Phòng K Công an thành phố Đ.
- 01 chai nhựa có nắp màu xanh, được đục 2 lỗ tròn, một lỗ có gắn ống hút màu vàng; 01 bật lửa.
2.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11, gắn sim số 0365284104, số IMEI 352856110107132 là tài sản của bị cáo T.
2.3. Trả lại cho bị cáo T1 01 điện thoại di động hiệu hiệu Iphone 6 plus, gắn sim 0938252756, số IMEI 355735077060731, nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án
(Toàn bộ số vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số 68/QĐ-VKSCL ngày 09/9/2024, Biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/9/2024)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Thanh Tuyền |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Anh T và Lê Đoàn Đình T1 tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
