|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 96/2023/HSST
Ngày: 24/8/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Văn Nguyên
2. Bà Vũ Thị Ngọc Phan
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Giáp, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình tham gia phiên tòa: Ông Lưu Nguyên Vũ, chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm: Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, điểm cầu thành phần: Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2023/HSST ngày 07/8/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày 16/7/1980;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm B, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: Không nghề; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị V (đều đã chết). Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư; Vợ: Tạ Thị M (Sinh năm 1987); Con: Có 02 con chung, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2014.
Tiền án: 02 tiền án.
- + Tại Bản án HSST số 33 ngày 19/4/2017, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Tại Bản án số 129 ngày 22/9/2021 Tòa án nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong bản án ngày 14/12/2022;
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Tại Quyết định số 28629 ngày 11/8/2020, bị Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản".
Bị cáo bị bắt khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 09/6/2023 đến ngày 15/6/2023 chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Ông Dương Ngọc X, sinh năm 1981; (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú: Xóm P, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Người làm chứng: Bà Bùi Thị L, sinh năm 1960; Vắng mặt tại phiên tòa.
Nơi cư trú: Xóm H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy, không nghề nghiệp. Do không có tiền để sử dụng ma túy và tiêu xài cá nhân nên T nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, T đi bộ một mình từ nhà sang nhà anh Dương Ngọc X với mục đích để trộm cắp gà của gia đình anh X. Khi đi, T mang theo 01 đèn pin dùng để soi và 01 tuốc nơ vít để cậy cửa khu vực chăn nuôi của gia đình anh X. Khi đi đến nhà anh X, Thạch trèo qua tường rào đi vào khu vực chuồng nuôi nhốt gà thì thấy cửa ngoài của chuồng gà không khóa nên đã đẩy cửa đi vào trong rồi dùng tay bắt được 04 con gà. Do không có túi đựng nên T đã cởi chiếc quần dài đang mặc ra để cho gà vào và mang ra ngoài để tại tại bờ ruộng phía ngoài tường rào rồi quay lại tiếp tục bắt trộm gà. Thạch lấy được một chiếc bao tải ở chuồng chăn nuôi bỏ trống, cạnh lối đi và đi vào khu vực nuôi nhốt dùng tay bắt thêm được 03 con gà cho vào bao tải rồi đi ra bờ ruộng cho 04 con gà trộm cắp được lúc trước vào trong bao tải rồi xách bao tải đựng gà đi bộ sang khu vực phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên bán cho bà Bùi Thị L được số tiền 850.000 đồng. Số tiền này đã mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi phát hiện mất gà, anh Dương Ngọc X đã tiến hành kiểm tra dữ liệu camera an ninh lắp đặt tại khu vực chuồng gà của gia đình thì phát hiện Nguyễn Văn T là người đã trộm cắp gà nên đã trình báo Công an xã N, huyện P đề nghị giải quyết. Công an xã N đã triệu tập T đến làm việc, sau đó bàn giao hồ sơ cùng đối tượng cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P để giải quyết theo thẩm quyền. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tiến hành trích xuất dữ liệu, kiểm tra hình ảnh từ camera an ninh tại khu vực
chuồng gà nhà anh X và cho Nguyễn Văn T xem lại nội dung các Video này. Thạch tự xác định hình ảnh người nam giới trong Video là T đang thực hiện hành vi trộm cắp gà của anh X vào đêm ngày 09/6/2023 và tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 quần dài màu trắng xanh, 01 áo sơ mi dài tay màu đen, nâu, 01 quần ngố màu xanh là trang phục T sử dụng khi trộm cắp gà của gia đình anh X. Tiến hành xác định hiện trường vụ án và khám xét khẩn cấp tại chỗ ở của Nguyễn Văn T, tạm giữ được: 01 tuốc nơ vít bằng kim loại có chiều dài 21,5cm, phần tay cầm bằng nhựa màu vàng dài 11cm tại vị trí chuồng chăn nuôi lợn cách cửa ra vào khu chăn nuôi phía tây 2,3m, cách mặt đất 01m; 01 áo sơ mi cộc tay màu xanh cũ, gắn mác có chữ “EIGHTH SIN, đã qua sử dụng, 01 đèn pin màu đen, cam, bạc. Tiến hành làm việc với bà Bùi Thị L, bà L đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 07 con gà (gồm 05 con gà mái ta có tổng khối lượng là 11,8 kg; 01 con gà mái lai chọi có khối lượng 02 kg; 01 con gà trống loại gà chọi nuôi thịt có khối lượng 3,3 kg.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 51/KL-HĐĐGTS ngày 13/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản huyện P, kết luận: “07 con gà gồm 05 con gà mái ta trị giá 979.400 đồng; 01 con gà mái lai chọi trị giá 180.000 đồng; 01 con gà trống loại gà chọi nuôi thịt trị giá 339.900 đồng. Tổng giá trị là 1.499.300 đồng”.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của minh như đã nêu trên, lời khai của T là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được như: đơn trình báo của bị hại, biên bản xác định hiện trường, hình ảnh camera an ninh thu giữ tại gia đình người bị hại, vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có. trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 áo sơ mi cộc tay màu xanh, cũ, gắn mác có chữ “EIGHTH SIN”; 01 đèn pin màu đen, cam, bạc được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “Đ”; 01 quần dài màu trắng - xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu đen, nâu; 01 quần ngố màu xanh tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “QAT”; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 21,5 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu vàng dài 11 cm đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy cát tông ký hiệu “T1”. Hiện đang được chuyển đến kho vật chứng của Cơ quan thi hành án dân sự huyện P chờ xử lý.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Dương Ngọc X đã nhận lại 07 con gà do T trộm cắp và không có yêu cầu, đề nghị gì. Bà Bùi Thị L không yêu cầu T phải trả lại số tiền 850.000 đồng đã mua gà của T.
Tại bản cáo trạng số 96/ CT - VKSPB ngày 04/8/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đã quyết định truy tố Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng mô tả; Bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình truy tố là đúng người, đúng tội.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình giữ nguyên bản cáo trạng số 96/CT - VKSPB ngày 04/8/2023; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt Nguyễn Văn T từ 18 đến 24 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi cộc tay màu xanh, cũ, gắn mác có chữ “EIGHTH SIN”; 01 đèn pin màu đen, cam, bạc được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “Đ”; 01 quần dài màu trắng - xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu đen, nâu; 01 quần ngố màu xanh tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “QAT”; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 21,5 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu vàng dài 11 cm đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy cát tông ký hiệu “T1”.
Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Nguyễn Văn T là 8.50.000đ (T1 trăm năm mươi nghìn đồng)
Về dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không có đề nghị gì đối với bị cáo.
Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/NQ –UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn cho bị cáo 200.000 đồng án phí HSST nộp ngân sách nhà nước.
Trong phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra
cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Đơn trình báo, biên bản làm việc, biên bản xác định hiện trường, sơ đồ hiện trường, lời khai của các bị hại, người làm chứng và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:
Do cần tiền để mua ma túy sử dụng và chi tiêu cá nhân nên khoảng 03 giờ 00 phút ngày 09/6/2023, Nguyễn Văn T đã có hành vi trộm cắp 07con gà (gồm 05 con gà mái ta có tổng khối lượng là 11,8 kg; 01 con gà mái lai chọi có khối lượng 02 kg; 01 con gà trống loại gà chọi nuôi thịt có khối lượng 3,3 kg) với tổng giá trị là 1.499.300 đồng của gia đình anh Dương Ngọc X. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp dưới 2.000.000 đồng nhưng T đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích, nên hành vi phạm tội lần này của T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tài sản là 07 con gà đã được thu hồi và trả lại cho bị hại là anh Dương Ngọc X.
Vì vậy đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng truy tố là đúng pháp luật.
Nội dung điều luật như sau:
“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) ...
b) Đã bị kết án về tội này ... chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017. Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến
quyền sở hữu tài sản của người khác, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự của địa phương, gây hoang mang trong dư luận địa phương. Lỗi của bị cáo là lỗi cố ý trực tiếp.
[3] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- - Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị kết án và bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện để trở thành người tốt mà lại tiếp tục phạm tội, điều đó chứng tỏ bị cáo có ý thức coi thường pháp luật.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 02 tiền án, chưa được xóa án tích nhưng tiền án về tội trộm cắp tài sản đã được tính là tình tiết định tội, không được tính là tình tiết tăng tặng nên bị cáo phải chịu một tình tiết tăng nặng là tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4]. Về hình phạt: Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, cũng như nhân thân của bị cáo thì thấy rằng cần có có mức án nghiêm khắc để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đảm bảo tính chất ngăn ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo điểm h, s khoản 1 Điều 51 BLHS nên Hội đồng xét xử giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Xét thấy mức hình phạt từ 18 đến 24 tháng tù mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Bình đề nghị khi luận tội đối với bị cáo Nguyễn Văn T là phù hợp với hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc và thu nhập không ổn định, không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với vật chứng là 01 áo sơ mi cộc tay màu xanh, cũ, gắn mác có chữ “EIGHTH SIN”; 01 đèn pin màu đen, cam, bạc được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “Đ”; 01 quần dài màu trắng - xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu đen, nâu; 01 quần ngố màu xanh tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “QAT”; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 21,5 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu vàng dài 11 cm đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy cát tông ký hiệu “T1” đây là tài sản liên quan đến việc phạm tội, không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với số tiền bị cáo bán gà cho bà Lơ 1 850.000₫ được coi là tiền thu lời bất chính nên cần tuy thu sung quỹ nhà nước.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không có đề nghị gì đối với bị cáo, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[8] Về các vấn đề khác:
- Trong vụ án này, còn có bà Bùi Thị Lơ 11 người đã mua gà của T. Tuy nhiên, bà L không biết số gà Thạch bán cho bà Lơ 11 do phạm tội mà có. Hành vi không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ
Đối với việc T sử dụng tiền bán gà vào việc mua ma túy sử dụng, theo T khai mua ma túy của một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại ở khu V, thành phố T và đã sử dụng hết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ mở rộng điều tra vụ án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt Nguyễn Văn T 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/6/2023.
Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3.Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền bị cáo thu lời bất chính là 850.000₫ (T1 trăm năm mươi nghìn đồng).
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi cộc tay màu xanh, cũ, gắn mác có chữ “EIGHTH SIN”; 01 đèn pin màu đen, cam, bạc được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “Đ”; 01 quần dài màu trắng - xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu đen, nâu; 01 quần ngố màu xanh tình trạng đã qua sử dụng được niêm phong trong thùng giấy ký hiệu “QAT”; 01 tuốc nơ vít bằng kim loại, dài 21,5 cm, phần tay cầm bằng nhựa màu vàng dài 11 cm đã qua sử dụng được niêm phong trong hộp giấy cát tông ký hiệu “T1”.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/8/2023 giữa Công an huyện P và Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Bình).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản, không có đề nghị gì đối với bị cáo, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn cho bị cáo Nguyễn Văn T 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật /.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Hà |
Bản án số 96/2023/HSST ngày 24/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 96/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ BÌNH, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Thạch phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
