|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-9-2024 V/v không công nhận là vợ chồng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Phạm Văn Dung
Bà Bùi Thị Nhàn
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh, Thư ký Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 về không công nhận là vợ chồng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 75/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị L; Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
Bị đơn: Ông Bùi Văn T; Nơi cư trú: Thôn M, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện ngày 11 tháng 6 năm 2024 và quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Vũ Thị L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Bùi Văn T chung sống với nhau như vợ chồng trên cơ sở tự nguyện từ năm 1993, bà và ông T chỉ tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương nhưng không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau khi tổ chức lễ cưới bà và ông T chung sống với nhau tại thôn M, xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng. Bà và ông T chung sống vui vẻ hạnh phúc đến năm 1995 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống dẫn đến ông bà thường xuyên xảy ra cãi, đánh nhau. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông T, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể khắc phục được, giữa bà và ông T không có đăng ký kết hôn nên bà đề nghị Tòa án không công nhận bà và ông T là vợ chồng.
Về con chung: Bà và ông Bùi Văn T có hai con chung là Bùi Thị C, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1994 và Bùi Văn T1, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2000. Hiện các con đã đủ 18 tuổi nên tự quyết định cuộc sống của mình.
Về tài sản chung: Bà Vũ Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Bùi Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do và không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị L.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn vắng mặt tại các phiên họp, phiên tòa đã vi phạm các quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 14, 15, 53 của Luật Hôn nhân và gia đình: Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Vũ Thị L và ông Bùi Văn T là vợ chồng. Về con chung: Hai con chung là Bùi Thị C, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1994 và Bùi Văn T1, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2000 đã đủ 18 tuổi nên tự quyết định cuộc sống của mình. Về tài sản chung: Không giải quyết. Về án phí: Bà Vũ Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Vũ Thị L khởi kiện ông Bùi Văn T đề nghị Toà án không công nhận là vợ chồng, yêu cầu khởi kiện của bà L thuộc trường hợp tranh chấp khác về hôn nhân gia đình quy định tại khoản 8 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Bùi Văn T hiện đang cư trú tại xã N, huyện A, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
[2] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn bà Vũ Thị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Bùi Văn T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không vì sự kiện bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan nên căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn bà Vũ Thị L và bị đơn ông Bùi Văn T.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ lời khai của nguyên đơn, tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và do Tòa án thu thập đủ cơ sở xác định: Bà L và ông T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện từ năm 1993, nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy quan hệ hôn nhân giữa bà L và ông T là không hợp pháp, không được pháp luật công nhận là vợ chồng. Trong quá trình chung sống giữa bà L và ông T xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Bà L xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ giữa bà và ông T là vợ chồng. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông T đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà L và ông T là vợ chồng, là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về con chung: Bà Vũ Thị L và ông Bùi Văn T có hai con chung là Bùi Thị C, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1994 và Bùi Văn T1, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2000. Hiện các con đã đủ 18 tuổi có khả năng tự quyết định quyết định cuộc sống của mình.
[5] Về tài sản chung: Bà Vũ Thị L có quan điểm không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Bùi Văn T không có quan điểm về các vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về án phí: Bà Vũ Thị L phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 28; Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 của Bộ luật Dân sự; các điều 9, 14 và 15 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ giữa bà Vũ Thị L và ông Bùi Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Bà Vũ Thị L và ông Bùi Văn T có hai con chung là Bùi Thị C, sinh ngày 15 tháng 11 năm 1994 và Bùi Văn T1, sinh ngày 10 tháng 02 năm 2000 đã đủ 18 tuổi nên tự quyết định cuộc sống của mình.
- Về tài sản chung: Không giải quyết.
- Về án phí: Bà Vũ Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí bà Vũ Thị L đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0006794 ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về không công nhận là vợ chồng
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: không công nhận là vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Loan + Trung
