Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG THỔ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 23 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phàn A Long;
  2. Ông Chẻo Lao U.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Đoàn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Lai Châu, Tòa án nhân dân huyện Phong Thổ mở phiên tòa xét xử công khai lưu động vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS, ngày 19 tháng 17 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 8 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Giàng Thị L, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 13/11/1986, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nữ; tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Giàng A Lử, đã chết; mẹ đẻ: Lý Thị S, sinh năm 1957; từng chung sống như vợ chồng với Sùng A L1, sinh năm 1985 (Không đăng ký kết hôn, hiện không còn chung sống với nhau); bị cáo chung sống như vợ chồng với Sùng A D, sinh năm 1983 (Không đăng ký kết hôn); bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2003, con nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
  2. Họ và tên: Hảng A P, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 02/3/1980, tại huyện P, tỉnh Lai Châu. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở trước khi bị bắt: Bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 0/12 (Không biết chữ); dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Hảng A P1, đã chết; mẹ đẻ: Lý Thị M, sinh năm 1958; từng chung sống như vợ chồng với Giàng Thị M1, sinh năm 1980 (Không đăng ký kết hôn, hiện không còn chung sống với nhau); bị cáo chung sống như vợ chồng với Giàng Thị M2, sinh năm 1985 (Không đăng ký kết hôn); bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2000, con nhỏ nhất sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Lê Mạnh H, là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L, có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Hảng Thị M, sinh năm 2000, địa chỉ: Bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Anh Giàng A H1, sinh năm 1999, địa chỉ: Bản C, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ, ngày 24/02/2024, P sang nhà L nhờ L đi tìm mua Heroine hộ Phừ để sử dụng, L đồng ý. Khoảng 04 giờ, ngày 25/02/2024, P sang nhà L đưa cho L số tiền 2.600.000 đồng và nói rõ số tiền 2.000.000 đồng để L mua Heroine cho P, còn 600.000 đồng để L ăn uống, đổ xăng dọc đường, không phải là trả công cho L. L nói với P là L cũng có 2.000.000 đồng để mua Heroine về sử dụng. Do L không có xe, P đưa cho L chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-617.03 để đi, đây là xe của Hảng Thị M, con gái P. L đi đến xã H, huyện N, tỉnh Lai Châu mua được 01 gói Heroine giá 4.000.000 đồng, của một người phụ nữ không rõ lai lịch. Mua được H2, L chia thành 05 gói nhỏ, được gói bằng các mảnh nilon màu đen, màu hồng, cất giấu trong túi áo khoác đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về. Trên đường đi mua Heroine, L đã mua xăng và mua đồ ăn, nước uống hết số tiền 540.000 đồng. Phừ điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F2-8352 của Giàng A H1, con rể của P, đi đến ngã ba M để chờ L. Khoảng 15 giờ cùng ngày, L đi đến ngã ba xã M, huyện P tỉnh Lai Châu thì gặp P. L nói với P đã mua được H2 rồi cùng nhau đi ăn phở, L trả tiền ăn cho P1 và L hết 60.000 đồng. Ăn xong, L điều khiển xe mô tô đi về trước, P đi sau. Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 25/02/2024, khi Giàng Thị L đi đến bản V, xã M, huyện P thì bị Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ của L 05 gói chất ma túy, dạng chất bột màu trắng và 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-617.03. Căn cứ lời khai của L, Cơ quan điều tra tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Hảng A P2, tạm giữ của P2 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F2-8352.

Bản Kết luận giám định số: 09/KL-GĐVV, ngày 25/02/2024, của người giám định tư pháp theo vụ việc, kết luận: Tổng khối lượng giám định (số chất bột, màu trắng thu giữ của Giàng Thị L, Hảng A) là 15,26 gam.

Bản Kết luận giám định số: 252/KL-KTHS, ngày 28/02/2024, của Phòng K Công an tỉnh L, kết luận: 05 mẫu chất bột, màu trắng gửi giám định là ma túy, loại Heroine (H).

2

Tại bản Cáo trạng số: 50/CT-VKSPT, ngày 19/7/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Giàng Thị L và bị cáo Hảng A P2 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Các bị cáo Giàng Thị L, Hảng A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về hình phạt, áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng Thị L mức hình phạt từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Hảng A P2 mức hình phạt từ 07 (Bảy) năm đến 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Về xử lý vật chứng, áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị xử lý: Tịch thu tiêu hủy: 14,67 gam Heroine còn lại sau giám định, các mảnh nilon, vỏ gói, vỏ niêm phong. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hảng Thị M 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-617.03, kèm theo giấy đăng ký xe. Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Giàng A H1 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F2-8352, kèm theo giấy đăng ký xe. Đối với 0,59 gam Heroine trích trong tổng số Heroine thu giữ của các bị cáo đã gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định nên không đề cập xử lý. Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí cho các bị cáo.

Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng. Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, về xử lý vật chứng và án phí. Về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình, xem xét các điều kiện về nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh gia đình của các bị cáo, việc bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo P1, quyết định hình phạt đối với bị cáo L ở dưới mức đề nghị của Kiểm sát viên, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Tại phần đối đáp tranh luận, Kiểm sát viên và người bào chữa đều giữ quan quan điểm của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Quá trình tham gia tố tụng, người bào chữa cho các bị cáo thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, tại hồ sơ đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, các kết luận giám định, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 04 giờ, ngày 25/02/2024, Hảng A sang nhà Giàng Thị L để nhờ L đi mua hộ Heroine về sử dụng. P2 đưa cho L số tiền 2.600.000 đồng và nói rõ P2 nhờ L đi mua hộ Phừ 2.000.000 đồng tiền Heroine để P2 sử dụng, còn 600.000 đồng để L chi phí đi đường. L nói với P2 là L cũng có 2.000.000 đồng để mua Heroine về sử dụng. Sau đó, P2 đưa cho L chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-617.03 để L đi mua Heroine. L đi đến xã H, huyện N, tỉnh Lai Châu và mua được 01 gói Heroine hết 4.000.000 đồng, của một người phụ nữ dân tộc Mông không rõ lai lịch. Số tiền 600.000 đồng, L đã chi tiêu hết vào việc ăn, uống, mua xăng xe. Hồi 16 giờ 00 phút, ngày 25/02/2024, khi Giàng Thị L đi đến bản V, xã M, huyện P thì bị Công an huyện P phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng. Qua kết quả trưng cầu giám định, xác định được: Số chất bột màu trắng thu giữ của Giàng Thị L, Hảng A là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng 15,26 gam.

Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tính chất tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức được rõ H2 là một loại ma túy, chất gây nghiện có tác hại rất lớn và ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự xã hội và làm phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Thổ đã truy tố các bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

[3] Tình tiết có liên quan trong vụ án: Đối với người đã bán Heroine cho bị cáo L, do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của người này nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

4

Quá trình điều tra xác định, M không biết việc P2 cho L mượn xe mô tô để đi mua ma túy sử dụng, H1 không biết việc P2 sử dụng xe mô tô đi gặp L (sau khi mua được ma túy). Do vậy, M và H1 không đồng phạm với các bị cáo trong vụ án này.

[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết xã hội và kiến thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do bị cáo L đã giúp cơ quan điều tra phát hiện ra bị cáo P2 là đồng phạm trong vụ án nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo điểm t khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để góp phần nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân và đảm bảo công tác phòng ngừa chung. Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội có đồng phạm, tính chất đồng phạm giản đơn nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L là người thực hành tích cực, trực tiếp đi mua, cất giấu Heroine, bị cáo P2 là người khởi xướng, cung cấp phương tiện cho L đi mua ma túy. Do P2 nhờ L đi mua Heroine hộ Phừ, P2 có biết việc L đi mua Heroine của L với số tiền 2.000.000 đồng và P2 đã cung cấp phương tiện, hỗ trợ tiền cho L đi mua Heroine nên P2 phải chịu trách nhiệm với vai trò đồng phạm với toàn bộ số Heroine mà L đã mua được. Bị cáo L thực hành tích cực, có vai trò nặng hơn trong vụ án nhưng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn bị cáo P2 nên cần quyết định hình phạt đối với 02 bị cáo bằng nhau. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm của người bào chữa về mức hình phạt đối với các bị cáo là không tương xứng, không đủ sức răn đe đối với các bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn, các bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: 14,67 gam Heroine còn lại sau giám định, được cho vào mảnh giấy trắng không dòng kẻ gói gấp lại, các mảnh nilon màu, các vỏ niêm phong là vật cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của chị Hảng Thị M và 01 chiếc xe mô tô thuộc sở hữu hợp pháp của anh Giàng A H1, do chị M, anh H1 đều không biết

5

đã được gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật giám định, Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, các bị cáo đều xin được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Các bị cáo Giàng Thị L, Hảng A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

2. Về hình phạt:

Đối với bị cáo Giàng Thị L: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự;

Đối với bị cáo Hảng A P2: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự.

  • - Xử phạt bị cáo Giàng Thị L: 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.
  • - Xử phạt bị cáo Hảng A P2: 07 (Bảy) năm, 06 (Sáu) tháng tù.
  • Thời hạn tù tính từ ngày 25/02/2024.

3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu tiêu hủy: 14,67 gam Heroine còn lại sau giám định, được cho vào 05 mảnh giấy trắng không dòng kẻ gói gấp lại, các mảnh nilon màu đen, màu hồng, các vỏ niêm phong.
  • Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hảng Thị M: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25B1-617.03, kèm theo giấy đăng ký xe.
  • Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Giàng A H1: 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 25F2-8352, kèm theo giấy đăng ký xe.
  • (Toàn bộ vật chứng hiện đang được lưu tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu. Tình trạng vật chứng được mô tả cụ thể theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi: 15 giờ 00 phút, ngày 29/7/2024, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Thổ, tỉnh lai Châu).

4. Về án phí: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,

6

5. Quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh;
  • - Sở Tư pháp;
  • - VKSND huyện Phong Thổ;
  • - CA huyện Phong Thổ (CQĐT, THAHS);
  • - Trại Tạm giam CA tỉnh Lai Châu;
  • - CC THADS huyện Phong Thổ;
  • - Các bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có QLNVLQ;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Hạnh

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG THỔ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các BC tàng trữ trái phép CMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger