|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày 23-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Mầng và ông Tòng Văn Máy.
- Thư ký phiên toà: Ông Quàng Công Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Thiều - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 02/TB-TA ngày 21/5/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lý A M, sinh ngày 20/02/1987, tại N, V, Yên Bái; Nơi ĐKHKTT: Bản P, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 0/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; Con ông Lý A S, (đã chết) và con bà Lý Thị P, (đã chết); có vợ là Vì Thị H, sinh năm 1984 và có 02 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 28/9/2015 bị Toà án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 36 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đã được xóa án tích; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2024; Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa: Ông Đèo Văn H1, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh S. Có mặt.
Người làm chứng: Lò Văn D, sinh năm 1984. Địa chỉ: Bản P, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 10 phút ngày 10/01/2024, công an xã P, huyện Mát hiện, bắt quả tang Lò Văn Dng có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà của Lý A M bản P, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Lò Văn Dai nhận vừa mua Heroine của Lý A M số tiền 200.000 đồng. Lý A Mgiác mang giao nộp 12 gói nilon màu xanh, bên trong chứa các cục màu trắng nghi là H2iền 200.000 đồng.
Vật chứng thu giữ:
- 12 gói nilon màu xanh, bên trong chứa các cục màu trắng nghi là H2.
- Tiền Ngân hàng N.000 đồng.
- 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu tím.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lý A M. Kết quả không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Ngày 10/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La tiến hành bóc mở niêm phong và cân tịnh vật chứng thu giữ. Kết quả xác định: chất bột màu trắng trong 12 gói nilon màu xanh có tổng khối lượng cân tịnh là 0,40 gam, lấy hết 0,40 gam làm mẫu giám định ký hiệu lần lượt từ LM1 đến LM12. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M quyết định trưng cầu giám định số 56. Tại kết luận giám định số 351 ngày 15/01/2024 của Phòng Kng an tỉnh St luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu LM1 đến LM12 là ma túy, loại Heroine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,40 gam loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định.
Ngày 10/01/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định số 57 về loại tiền đối với 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng. Tại kết luận giám định số 385 ngày 19/01/2024 của Phòng Kng an tỉnh S kết luận: Số tiền 200.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Lý A MLò Văn Dai nhận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/01/2024Lý A Mmột người đàn ông dân tộc Tng biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực bản P, xã P, huyện M, Lý A Mmua được của người này 01 gói Heroine với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua được Heroine Lý A Mg về chia thành 16 gói nhỏ với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Ngày 09/01/2024 và 10/01/2024 Lý A Mdụng hết 02 gói Heroine. Khoảng 10 giờ ngày 10/01/2024 khi Lý A Mg ở nhà thì có Lò Văn Dn hỏi mua ma túy, Lý A Mg ý bán cho Lò Văn D gói Heroine với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được H2, Lò Văn Dy giấy bạc và bật lửa mang theo từ nhà ra sử dụng hết 02 gói Heroine vừa mua (Lò Văn Dông xin phép Lý A Msử dụng ma tuý). Khi Lò Văn Da sử dụng ma túy xong thì bị Công an xã P, huyện Mt quả tang.
Đối với người đàn ông theo lời khai của Lý A Mngười đã bán Heroine cho Lý A M ngày 08/01/2024, Lý A Mng biết tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông này, việc trao đổi, mua bán ma túy không có ai biết hoặc chứng kiến. Ngoài lời khai của Lý A Mquan cảnh sát điều tra Công an huyện Mông thu thập được tài liệu chứng cứ nào khác nên không có căn cứ để mở rộng điều tra vụ án.
Đối với Lò Văn D người mua Heroine của Lý A M ngày 10/01/2024: Do nghiện ma túy nên Lò Văn Da ma túy của Lý A Msử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số Heroine Lò Văn Da của Lý A Msử dụng hết, Lò Văn Dưa có tiền án tiền sự nên hành vi của Lò Văn Dông đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 02/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn D có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 48/CT-VKS-ML ngày 17/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo Lý A Mtội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lý A Myếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Lý A Mm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt Lý A M30 tháng đến 36 tháng tù giam; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đối với vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Mợc niêm phong dán kín, (gồm có: 01 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 12 mảnh nilon màu xanh); 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu tím.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.
Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Đề nghị miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo khẳng định bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội Mua bán trái phép chất ma túy là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Song đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, pháp luật Nhà nước và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì bị cáo là người dân tộc sống ở vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ hiểu biết, nhận thức hạn chế, sau khi phạm tội đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Đề nghị miễn án phí và không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, vì bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thu nhập không ổn định, tài sản không có giá trị lớn.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người bào chữa, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Người làm chứng Lò Văn Dng mặt nhưng đã có lời khai có trong hồ sơ và được công bố tại phiên tòa, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
[3] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Lý A Ma nhận: Ngày 10/01/2024 bị cáo Lý A Mcó hành vi cất giấu trái phép 0,40 gam Heroine với mục đích để bán kiếm lời. Ngoài ra cũng vào ngày 10/01/2024 bị cáo Lý A Mcó hành vi bán trái phép 02 gói Heroine cho Lò Văn Di số tiền 200.000 đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, thông báo kết quả giám định vật chứng của vụ án, lời khai của người làm chứng, người chứng kiến.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lý A Mthực hiện hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình làm là nguy hiểm cho xã hội và bản thân, nhưng do nghiện ma túy và hám lời bất chính nên bị cáo đã thực hiện tội phạm. Hành vi cất giấu trái phép Heroine để sử dụng và bán kiếm lời và hành vi bán trái phép Heroine cho Lò Văn Da bị cáo Lý A Mc thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, tội phạm bị cáo thực hiện đã hoàn thành. Hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo là thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự và an toàn xã hội ở địa phương.
[4] Về tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ và nhân thân
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Toà cần xem xét áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, vì sau khi phạm tội và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Về nhân thân: Ngày 28/9/2015 bị Toà án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 36 tháng tù giam về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đã được xóa án tích. Tuy nhiên bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nhân thân xấu.
[5] Về hình phạt
Về hình phạt chính: Tòa cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho xã hội và gia đình, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo, bị cáo thu nhập không ổn định, tài sản không có gì giá trị lớn, bị cáo không có khả năng thi hành, Toà cần xem xét không áp dụng đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho bị cáo Lý A M, cơ quan chức năng không có cơ sở chứng minh, xử lý.
Đối với Lò Văn D: Do nghiện ma túy nên Lò Văn Da ma túy của Lý A Msử dụng, ngoài ra không có mục đích nào khác. Số Heroine Lò Văn Da của Lý A Msử dụng hết, Lò Văn Dưa có tiền án tiền sự nên hành vi của Lò Văn Dông đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 02/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn D có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của Lò Văn D dụng ma túy tại nhà Lý A M: Lò Văn Dông xin phép Lý A M. Do đó không có căn cứ xem xét trách nhiệm hình sự đối với Lý A Mo quy định tại Điều 256 Bộ luật Hình sự “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy”.
[7] Về vật chứng của vụ án:
01 phong bì công văn của Công an huyện Mợc niêm phong dán kín, (gồm có: 02 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 12 mảnh nilon màu xanh). Là phương tiện bị cáo dùng thực hiện tội phạm, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Tiền Ngân hàng N.000 đồng. Là tiền do bị cáo Lý A Mm tội mà có, cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu tím. Là vật không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
[8] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo, bị cáo và người bào chữa xin miễn nộp tiền án phí. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015:
Tuyên bố: bị cáo Lý A Mm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Lý A M(Ba mươi) tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 10/01/2024).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn của Công an huyện Mợc niêm phong dán kín, (gồm có: 02 vỏ phong bì niêm phong cũ đã bóc mở, 12 mảnh nilon màu xanh); 01 mảnh giấy bạc đã qua sử dụng, 01 bật lửa ga màu tím.
T1thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
(Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra Công an huyện M Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La).
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Toà án: Miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lý A M.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 23/5/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) Lê Thị Thu Hà |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ (Ký tên, ghi rõ họ tên) |
THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Ký tên, ghi rõ họ tên, đóng dấu) |
7
8
9
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án số 96 ngày 23.5.2024 Lý A M phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
