TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 96/2024/HS-ST
Ngày 22 tháng 7 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên tòa: Bà Lê Nữ Hương Huyền.
Các Hội thẩm Nhân dân: Ông Nguyễn Quang Thái và ông Dương Văn Điệp.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Thư ký Tòa án Nhân dân huyện Bình Xuyên.
Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Giang Quân- Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trương Văn Á, sinh ngày 10/7/1993 tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn C, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Văn H và bà Đỗ Thị Kim T; vợ, con: Chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 15/HSST ngày 16/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Trương Văn Á 01 năm 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản” (chấp hành xong án phí ngày 22/6/2013).
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 131/HSST ngày 26/9/2013 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Trương Văn Á 03 năm 03 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp với hình phạt 01 năm 09 tháng tù tại Bản án số 15/HSST ngày 16/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của cả 02 Bản án là 05 năm tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/11/2016 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh V (có mặt).
Bị hại: Công ty TNHH C; địa chỉ: Khu công nghiệp B, thị trấn bá H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Trọng H1, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Trần Trung K, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).
Anh Phó Đức T1, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trương Văn Á là công nhân thời vụ tại xưởng AA8, bộ phận FATP thuộc Công ty TNHH C1 địa chỉ tại khu công nghiệp B, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Nhiệm vụ của Á là đi thu gom rác, vật liệu thừa tại các bộ phận sản xuất rồi đem đi đổ tại khu tập kết rác trong Công ty. Ngày 05/4/2024, Á đến Công ty làm việc đến 11 giờ thì nghỉ ăn cơm trưa. Khoảng 11 giờ 30 phút trong lúc nghỉ ăn cơm trưa, Á quay lại dây chuyền 3- Main L10 102A- F3 tại khu vực bộ phận QC kiểm tra hàng thì phát hiện thấy 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu L10 Google Pixel để ở trên bàn nên nảy sinh ý định trộm cắp 02 chiếc bán lấy tiền tiêu sài. Quan sát thấy xung quanh không có ai nên Á đến lấy 01 chiếc điện thoại đúc vào túi quần rồi đi ra khu vực tập kết rác trong xưởng cất giấu chiếc điện thoại ở đáy xe chứa rác. Đến khoảng 11 giờ 49 phút cùng ngày, Á quay lại lấy chiếc điện thoại còn lại rồi đi gom rác. Đến khoảnh 13 giờ 30 phút thì có lực lượng bảo an đến kiểm tra xe rác của Á nhưng do xe rác đầy, 02 chiếc điện thoại Á giấu ở đáy xe nên lực lượng bảo an không phát hiện được và cho Á đi đổ rác. Sau khi đổ rác xong, Á lấy 02 chiếc điện thoại mang cất giấu ở tủ đồ cá nhân của Á. Đến 17 giờ hết giờ làm việc Á mang 02 chiếc điện thoại về phòng trọ cất giấu. Khoảng 18 giờ Á đi qua cửa hàng thu mua phế liệu, linh kiện điện tử của anh Phó Đức T1 ở thôn T, xã T, huyện B rồi bán cho anh T1 02 chiếc điện thoại trên với giá 5.000.000đ. Anh T1 có hỏi về nguồn gốc thì Á nói dối là mua được của Công ty giá rẻ. Số tiền sau khi bán điện thoại, Á trả nợ và tiêu sài hết.
Khoảng 10 giờ ngày 06/4/2024 chị Phạm Thị H2 là trưởng phòng sản xuất xưởng A8 của Công ty kiểm tra hệ thống phát hiện Trương Văn Á trộm cắp 02 chiếc điện thoại nêu trên nên đã trình báo Cơ quan điều tra.
Tại Kết luận định giá tài sản số 52 ngày 18/4/2024 của Hội đồng định giá kết luận: 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Google trị giá 7.318.128đ; 02 chiếc điện thoại có giá trị là 14.636.256₫.
Tại Cáo trạng số: 89/CT-VKSBX ngày 25/6/2024, Viện kiểm sát Nhân dân huyện Bình Xuyên đã truy tố Trương Văn Á về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Văn Á khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận: Ngày 05/4/2024, Công ty TNHH C bị mất trộm 02 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Google nhưng sau đó đã nhận lại được tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì về bồi thường.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trương Văn Á từ 12 đến 15 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo Trương Văn Á tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp nhau, phù hợp lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút và 11 giờ 49 phút ngày 05/4/2024, tại bàn sản xuất xưởng AA8 bộ phận FATP thuộc Công ty TNHH C có địa chỉ tại khu công nghiệp B, thị trấn B, huyện B, Trương Văn Á là công nhân Công ty TNHH C đã trộm cắp 02 chiếc điện thoại của Công ty N. Trị giá 02 chiếc điện thoại là 14.636.256₫.
Hành vi nêu trên của Trương Văn Á đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Nội dung điều luật quy định như sau:
1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn trong xã hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị đưa ra xét xử về tội Cướp giật tài sản tuy đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện bản thân thể hiện sự coi thường pháp luật.
Bị cáo phạm tội theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức cao nhất của khung hình phạt đến 03 năm tù nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì trường hợp nêu trên thuộc tội phạm ít nghiêm trọng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động để gia đình bị cáo bồi thường cho anh P Đức Tài số tiền 5.000.000đ nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách hiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa xác định bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan gồm:
Đối với anh Phó Đức T1 là người mua 02 chiếc điện thoại của Á nhưng không biết đây là tài sản do Á phạm tội mà cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Google của Công ty TNHH C do Á trộm cắp rồi đem bán cho anh Phó Đức T1. Ngày 09/4/2024 anh T1 đã tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra. Ngày 01/6/2024 cơ quan điều tra đã trả lại cho người đại diện theo ủy quyền của Công ty là anh Nguyễn Trọng H1. Anh H1 không có đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về trách nhiệm dân sự:
Đối với số tiền 5.000.000đ mà Trương Văn Á có được do bán 02 chiếc điện thoại trộm cắp cho anh Phó Đức T1. Ngày 12/5/2024 anh Trần Trung K (là em họ của Á) đã trả cho anh K số tiền trên. Anh K đã nhận lại số tiền và không yêu cầu gì đối với Á nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Trương Văn Á phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Trương Văn Á 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 09/4/2024).
3. Án phí Hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Trương Văn Á phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Nữ Hương Huyền |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
