|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày: 22/4/2024 |
Vinh. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Thái Quý
- Bà Phan Thị Gấm Hoa
Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Lê Viết Báu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 4 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024 tại hai điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh N theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 126/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:
Họ và tên: Phan Trọng D - Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08 tháng 8 năm 1982 tại huyện H, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Làng T, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Trọng H – sinh năm 1959 và bà: Cao Thị T – sinh năm 1961; Vợ: Lê Thị T1 – sinh năm 1983; Con: có 03 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2015; Tiền án: Ngày 28/9/2021, Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xử phạt 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 01/12/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/11/2009 bị tòa án nhân dân TP Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong ngày 15/06/2011; Ngày 11/07/2012 bị tòa án nhân dân quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh xử 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 15/12/2012; Ngày 29/03/2016 bị tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, Nghệ An xử 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” . Chấp hành xong ngày 19/02/2018; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/12/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý đá nên vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/12/2023, Phan Trọng D đi sang huyện N, tỉnh Hà Tĩnh để tìm một người quen biết ngoài xã hội tên là Đ (không rõ lai lịch, địa chỉ ở đâu) để mua ma tuý đá về sử dụng. Khi D đi đến một quán cafe bên đường thuộc huyện N, Hà Tĩnh thì gặp Đ. Tại đây D đã mua của Đ 01 (một) gói ma tuý đá với giá 500.000 đồng. Gói ma tuý D mua của Đ được gói bằng bao ni lông màu trắng, bên ngoài gói có chất dính nên D đã dán gói ma tuý vào mũ bảo hiểm, màu đen dạng lưỡi trai của D rồi đội lên đầu. Sau đó D bắt xe lai về nhà để sử dụng. Khi đi đến số A, đường K thuộc xóm D, xã H, TP . thì D xuống xe để đi tìm nơi sử dụng ma tuý. Lúc này, D đang còn đứng bên đường thì bị Công an phường H, TP . kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, đang dính ở mũ bảo hiểm màu đen lưỡi trai của D đang đội trên đầu. Tại đây, D khai là gói ma túy đá cất giấu để sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Tổ công tác đã thu giữ vật chứng và dẫn giải D về trụ sở Công an phường H, thành phố V để lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại Kết luận giám định số 89/KL-KTHS(Đ2 - MT) ngày 30/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất tinh thể màu trắng thu giữ của Phan Trọng D gửi tới giám định là ma túy, loại Methamphetamine có khối lượng là 0,272 gam.
Cáo trạng số 95/VKS –TPV ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Phan Trọng D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 điều 249 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt Phan Trọng D từ 24 đến 27 tháng tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã được niêm phong dán kín thu giữ của Phan Trọng D; Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về nội dung:
- Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 12 giờ 45 phút ngày 26/12/2023, tại khu vực trước số S, đường K thuộc xóm D, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Phan Trọng D đang có hành vi cất giữ trái phép 01(một) gói ma túy là ma túy (Methamphetamine), có khối lượng là 0,272 gam mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an phường H, thành phố V phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
-
Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án, lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bố là thương binh, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và chỉ cần xử bị cáo khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật.
Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo hiện không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
-
Về vật chứng: Phong bì thư niêm phong vật chứng ma túy thu giữ của Phan Trọng D là chất cấm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người bán ma túy cho D do không biết lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Trọng D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Phan Trọng D 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 26/12/2023.
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ phong bì niêm phong chứa ma túy thu giữ của Phan Trọng D còn lại sau khi giám định (Vật chứng có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/152 ngày 19/4/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Phan Trọng D phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồ Hòa |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 22/04/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HSST
