Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LÂM HÀ

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 96/2024/HS - ST

Ngày: 21/6/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:+ Ông Nguyễn Xuân Ban

+ Bà Ngô Thị Luân

- Thư ký phiên toà: bà Nguyễn Thị Phương – là Thư ký Toà án nhân dân huyện Lâm Hà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: ông Mai Trường Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 5 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Văn L, sinh năm 2001, tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: tổ B, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K (đã chết) và bà Võ Thị Anh S; tiền án: tại bản án số 15/2019/HS-ST ngày 18/3/2019, Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bản án số 41/2019/HS-ST ngày 16/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2023; tiền sự: không; nhân thân: bản án số 29/2024/HS-ST ngày 22/4/2024, của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo hiện đang bị giam trong vụ án khác và có mặt tại phiên tòa;
  2. Nguyễn Nhật T, sinh năm 2003, tại: Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: số 01 L, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không rõ và bà Nguyễn Thị Mỹ D; tiền án: tại bản

án số 41/2019/HS-ST ngày 16/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/10/2022; tiền sự: không; nhân thân: ngày 03/12/2018 bị Công an huyện D, tỉnh Lâm Đồng xử phạt cảnh cáo theo Quyết định số 01/QĐ ngày 03/12/2018, tại bản án số 29/2024/HS-ST ngày 22/4/2024, của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo hiện đang bị giam trong vụ án khác và có mặt tại phiên tòa;

Bị hại: Anh Phan Văn C, sinh năm 1994

Địa chỉ: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Anh Nguyễn Văn L1, sinh năm 2007

    Địa chỉ: số A L, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

    Người đại diện hợp pháp cho Nguyễn Văn L1: ông Nguyễn Văn T1, có đơn xin vắng mặt, tại phiên tòa có ông Nguyễn Văn C1 là chú của Nguyễn Văn L1 có mặt.

  • Ông Lê T2, sinh năm 1980

    Địa chỉ: tổ dân phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có đơn xin vắng mặt

  • Anh Lê Nguyễn Nhật M, sinh năm 2000

    Địa chỉ: số B Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 00 một ngày giữa tháng 9 năm 2023, Nguyễn Nhật T đang ở nhà tại số A đường L, tổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng cùng với em họ là Nguyễn Văn L1 thì nhận được điện thoại từ Trần Văn L rủ T đi qua xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để trộm cắp tài sản thì T đồng ý. T nói với Nguyễn Văn L1 về việc Trần Văn L rủ đi sang xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng để trộm cắp tài sản thì L đồng ý tham gia. Sau đó T chuẩn bị 01 kìm bằng kim loại màu trắng để trong giỏ xách bằng da màu đen đeo trước ngực rồi điều khiển xe mô tô hiệu yamaha sirius màu đen, biển kiểm soát 49G1- 741.33 chở theo Nguyễn Văn L1 tới nơi ở của Trần Văn L thuộc thôn G, xã L, huyện D, tỉnh Lâm Đồng để đón Trần Văn L. Do Trần Văn L biết đường qua xã T, huyện L nên Trần Văn L đã điều khiển xe mô tô chở T ngồi giữa, Nguyễn Văn L1 ngồi phía sau. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, cả nhóm đi tới địa phận xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Khi đi cả ba đi qua chợ T3 một đoạn thì thấy nhà của anh Phan Văn C thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng đang khóa cổng thì tất cả bàn bạc với nhau sẽ đột

nhập vào căn nhà này để lấy trộm tài sản. Lúc này, Trần văn L2 phát hiện phía sau nhà có đường bê tông nên điều khiển xe đi ra phía sau và dừng xe trước vườn cà phê. Cả ba thống nhất là Nguyễn Văn L1 sẽ đứng ngoài trông xe và cảnh giới, còn TTrần Văn L sẽ đột nhập vào nhà để lấy trộm tài sản. TTrần Văn L đi bộ vào vườn cà phê phía sau nhà, khi tới nơi thì phát hiện sau nhà được xây kín, phía trên tường có hàng rào sắt thì T lấy kìm mang theo cùng với Trần Văn L bẻ gãy song sắt của hàng rào rồi L chui vào trước, T chui vào theo phía sau.

Khi vào trong nhà thì TTrần Văn L đi qua chỗ phơi đồ rồi mở cửa sắt để vào khu vực bếp rồi đi vào trong phòng ngủ giáp với phòng bếp thì thấy trong phòng có một giường ngủ và một tủ gỗ. Lúc này, Trần Văn L bật đèn flash của điện thoại lên để soi rồi lục tìm tài sản trong tủ thì tìm được 01 hộp giấy đựng đồng hồ Casio màu xanh đen từ trong tủ, L mở hộp giấy ra thì thấy bên trong có nhiều đồng hồ, nhẫn, dây chuyền, lắc vàng nên đổ ra giường. Tường lấy 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng, 04 nhẫn bằng vàng và 01 đôi bông tai bằng vàng bỏ vào trong túi quần, còn L lấy 01 đồng hồ nhãn hiệu apple watch có mặt hình chữ nhật, dây bằng nhựa dẻo, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio có mặt hình tròn, dây bằng da màu đen, 03 sợi dây chuyền vàng, 02 lắc tay vàng bỏ vào túi quần. Sau đó Trần Văn L rủ T tiếp tục lên lục tìm tài sản tại các ngăn của tủ gỗ tại phòng khách nhưng không tìm thấy gì rồi đi ra ngoài theo hướng đã đột nhập rồi T gọi điện thoại cho Nguyễn Văn L1 đến đón. Sau đó Trần Văn L điều khiển xe chở TNguyễn Văn L1 đi về thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng rồi Trần Văn L về nơi ở của L tại thôn G, xã L, huyện D, lấy số tài sản vừa chiếm đoạt được mang ra xem rồi dùng lửa để đốt chiếc lắc tay bằng vàng dạng trơn làm chiếc lắc tay bị ám muội màu đen. Còn TNguyễn Văn L1 đi về nhà Ttổ A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Khi về đến nhà, T lấy tài sản ra kiểm tra thì phát hiện 04 nhẫn bằng vàng và 01 đôi bông tai bằng vàng đã bị rơi mất còn lại 01 đồng hồ bằng kim loại màu vàng thì T cho Nguyễn Văn L1 sử dụng, L1 đeo chiếc đồng hồ này trên tay sau đó đã làm mất.

Đến ngày 23/9/2023, Trần Văn L gọi điện thoại cho T nói T qua lấy vàng mang đi bán. T điều khiển xe mô tô hiệu yamaha sirius màu đen biển kiểm soát 49G1- 741.33 chở theo Nguyễn Văn L1 đến nơi ở của Trần Văn L thuộc thôn G, xã L, huyện D. Tại đây, Trần Văn L đã đưa cho T một dây chuyền vàng 610 trọng lượng 03 chỉ, dây dạng xích nối với nhau bằng các thanh vàng khắc hình rồng và một lắc tay bằng vàng 18k loại lắc trơn đã bị ám muội đen. T cầm số vàng trên rồi cùng Nguyễn Văn L1 điều khiển xe đi về nhà. Trên đường đi, T đưa chiếc lắc tay cho Nguyễn Văn L1 cầm và do chiếc lắc tay đã bị ám muội đen nghĩ là vàng giả nên Nguyễn Văn L1 đã vứt đi. Sau đó, T một mình mang dây chuyền tới tiệm V, thuộc tổ dân phố A, thị trấn D, huyện D, tỉnh Lâm Đồng bán cho chủ tiệm là ông Lê T2 với giá 11.000.000đồng. Sau khi bán vàng xong, T đưa cho Trần Văn L 7.000.000đồng còn lại thì T giữ và tiêu xài cá nhân hết. Đối với số vàng còn lại thì trong quá trình làm vườn, Trần Văn L đã làm rơi mất. Đến ngày 30/9/2023, cơ

quan cảnh sát điều tra Công an huyện L đã triệu tập, làm việc với Trần Văn L, Nguyễn Văn L1Nguyễn Nhật T thì cả ba đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và tự nguyên giao nộp 02 chiếc đồng hồ đã chiếm đoạt của bị hại.

Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: 01 đồng hồ nhãn hiệu apple watch có mặt hình chữ nhật, dây bằng nhựa dẻo, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio có mặt hình tròn, dây bằng da màu đen.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 129/KLĐG ngày 27/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio có mặt hình tròn, dây bằng da màu đen có giá trị 1.840.000đồng; 01 đồng hồ nhãn hiệu apple watch có mặt hình chữ nhật, dây bằng nhựa dẻo có giá trị 1.974.000đồng.

Ngày 19/01/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L có kết luận định giá tài sản số 07/KLĐG đối với tài sản là 01 dây chuyền bằng kim loại vàng 610, dạng dây xích khắc hình con rồng, trọng lượng vàng 03 chỉ; 01 dây chuyền bằng kim loại vàng 18k, dạng dây xích dẹp mặt hình chữ X, trọng lượng vàng 2,5 chỉ; 01 dây chuyền bằng kim loại vàng 18k, dạng xích dẹp, mặt hình phật, trọng lượng vàng 0,7chi; 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18k đính đá màu hồng trọng lượng vàng 1,5 chỉ; 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18k mặt hình chữ N trọng lượng vàng 0,8 chỉ; 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18k đính đá màu trắng trọng lượng vàng 1,9 chỉ; 01 nhẫn bằng kim loại loại vàng 18k đính đá màu trắng trọng lượng 0,6 chỉ; 01 đôi bông tai bằng kim loại vàng 18k hình chữ X trọng lượng vàng 0,7 chỉ; 01 lắc tay bằng kim loại vàng 18k nhiều hình cầu nối với nhau trọng lượng vàng 1,5 chỉ; 01 lắc tay bằng kim loại vàng 18k dạng trơn trọng lượng vàng 0,9 chỉ; có tổng giá trị là 63.640.500đồng.

Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKS-LH ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử các bị can Trần Văn L, Nguyễn Nhật T về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng thực hành quyền công tố luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Nhật T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn L từ 03 đến 04 năm tù; xử phạt bị cáo Nguyễn Nhật T từ 30 đến 36 tháng tù. Đồng thời áp dụng Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai bị cáo tại bản án số 29/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án,

cụ thể bị cáo L phải chấp hành hình phạt chung từ 08 đến 09 năm tù; bị cáo T phải chấp hành hình phạt chung từ 60 đến 66 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: đại diện Viện kiểm sát đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật trên cơ sở sự thống nhất của các bị cáo và bị hại tại phiên tòa; về án phí đề nghị buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Các bị cáo xác định quá trình điều tra bị cáo không bị ép cung, dùng nhục hình và lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra là đúng với diễn biến sự việc xảy ra. Các bị cáo đồng ý với cáo trạng truy tố và không có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì và không khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo và tình tiết định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận khoảng 20 giờ vào một ngày giữa tháng 9/2023, tại nhà ở của anh Phan Văn C, thuộc thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng, các bị cáo đã có hành vi bàn bạc thống nhất với nhau từ trước rồi lén lút, bí mật chiếm đoạt tài sản gồm 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio có mặt hình tròn, dây bằng da màu đen; 01 đồng hồ nhãn hiệu apple watch có mặt hình chữ nhật, dây bằng nhựa dẻo; 01 dây chuyền bằng kim loại vàng 610, dạng dây xích khắc hình con rồng, trọng lượng vàng 03 chỉ; 01 dây chuyền bằng kim loại vàng 18k, dạng dây xích dẹp mặt hình chữ X, trọng lượng vàng 2,5 chỉ; 01 dây chuyền bằng kim loại vàng 18k, dạng xích dẹp, mặt hình phật, trọng lượng vàng 0,7 chỉ; 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18k đính đá màu hồng trọng lượng vàng 1,5 chỉ; 01 nhẫn bằng kim loại vàng 18k mặt hình chữ N trọng lượng vàng 0,8 chỉ; 01 nhẫn bằng kim loại loại vàng 18k đính đá màu trắng trọng lượng vàng 1,9 chỉ; 01 nhẫn bằng kim loại loại vàng 18k hình chữ X trọng lượng vàng 0,6 chỉ; 01 lắc tay vàng 18k nhiều hình cầu nối với nhau trọng lượng vàng 1,5 chỉ; 01 lắc tay bằng kim loại vàng 18k dạng trơn trọng lượng vàng 0,9 chỉ; 01 đôi bông tại bằng kim bằng kim loại vàng 18k hình chữ X trọng lượng 0,7 chỉ; nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo chiếm đoạt của anh C được định giá có giá trị là 67.454.500 đồng.

Lời khai nhận tội của các bị cáo về hành vi các bị cáo đã thực hiện phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận các bị cáo Trần Văn L, Nguyễn Nhật T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm, liều lĩnh được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Các bị cáo lợi dụng lúc chủ sở hữu vắng nhà, vào thời điểm trời tối ít người chú ý lén lút đột nhập vào nhà của anh C trộm cắp tài sản là đồng hồ đeo tay và trang sức bằng kim loại vàng, là loại tài sản dễ cất giấu và dễ tiêu thụ. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện.

[4] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo trong vụ án: thuộc trường hợp có tổ chức, là hình thức đồng phạm có sự câu kết với nhau từ trước, được thể hiện qua vai trò của từng bị cáo cụ thể như sau:

Bị cáo Trần Văn L, là người chủ động rủ bị cáo Nguyễn Nhật T, là người là người chở bị cáo T và đối tượng Nguyễn Văn L1 đi trộm cắp tài sản, là người trực tiếp đột nhập vào nhà anh C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; là người đưa vàng cho T và yêu cầu T đi bán rồi nhận số tiền 7.000.000đồng từ tiền bán vàng để tiêu xài cá nhân. Bị cáo T khi được Trần Văn L rủ đi trộm cắp thì đồng ý, là người trực tiếp chuẩn bị công cụ là một kìm bằng kim loại màu trắng rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 49G1- 741.33 đi đón Trần Văn L, là người dùng kìm cùng với L bẻ gãy song sắt của hàng rào để cùng Trần Văn L đột nhập vào nhà anh C thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đồng thời T là người đem tài sản trộm cắp là sợi dây chuyền bằng kim loại vàng có trọng lượng 03 chỉ đi bán lấy tiền. Vì vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện, trong đó bị cáo L phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: xét thấy các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo đang phải chấp hành hình phạt của bản án số 29/2024/HS-ST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng nên áp dụng khoản 1 Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó tổng hợp với hình phạt của bản án trước và quyết định hình phạt chung đối với bị cáo theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, coi thường pháp luật, hơn nữa hậu quả mà các bị cáo gây ra phần lớn chưa được khắc phục. Do đó quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa là có cơ sở nên cần chấp nhận. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân tốt, sống biết tuân thủ pháp luật.

[7] Đối với Nguyễn Văn L1 đã có hành vi giúp sức cho các bị cáo Trần Văn LNguyễn Nhật T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên khi thực hiện hành vi phạm tội thì Nguyễn Văn L1 chưa đủ 16 tuổi nên Cơ quan công an huyện L không truy cứu trách nhiệm hình sự và đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn L1 nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với ông Lê T2 là người mua 01 dây chuyền bằng kim loại vàng 610, dạng dây xích khắc hình con rồng, trọng lượng 03 chỉ của bị cáo Nguyễn Nhật T vào ngày 23/9/2023 nhưng không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không xem xét xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lê Nguyễn Nhật M là người cho T mượn xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, biển kiểm soát 49G1-741.33 nhưng không biết việc bị cáo T sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L không xem xét xử lý. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa các bị cáo và đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đồng ý bồi thường cho bị hại và bị hại đồng ý nên cần ghi nhận, cụ thể bị cáo Trần Văn L bồi thường 30.000.000đồng; bị cáo Nguyễn Nhật T bồi thường 28.640.500đồng và ông T1 bồi thường 5.000.000đồng.

Đối với 01 đồng hồ kim loại màu vàng thì bị cáo T đã đưa cho Nguyễn Văn L1 nhưng quá trình sử dụng chiếc đồng hồ này thì Nguyễn Văn L1 đã làm rơi mất và tại phiên tòa bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường chiếc đồng hồ nói trên, đây là sự tự nguyện của bị hại nên cần ghi nhận.

Đối với 01 đồng hồ nhãn hiệu apple watch có mặt hình chữ nhật, dây bằng nhựa dẻo, 01 đồng hồ nhãn hiệu Casio có mặt hình tròn, dây bằng da màu đen. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Lâm Đồng đã

ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phan Văn C nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha sirius, màu đen, biển kiểm soát 49G1-741.33 của Lê Nguyễn Nhật M và 01 kìm kim loại mà các bị cáo sử dụng làm phương tiện, công cụ đi trộm cắp tài sản; đã được Công an huyện D thu giữ trong một vụ án khác và đã được Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng giải quyết tại bản án số 29/2024/HSST ngày 22/4/2024. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thầm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Văn LNguyễn Nhật T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
    1. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Trần Văn L 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 05(năm) năm tù của bản án số 29/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2023.

    2. Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Điều 55; Điều 56 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

      Xử phạt: bị cáo Nguyễn Nhật T 30 (ba mươi) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 30(ba mươi) tháng tù của bản án số 29/2024/HSST ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 60 (sáu mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; các Điều 584, 585, 586, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015

    Buộc các bị cáo và ông Nguyễn Văn T1 phải có trách nhiệm liên đới bồi thường cho anh Phan Văn C tổng số tiền là 63.640.500 đồng; trong đó bị cáo Trần Văn L phải bồi thường cho anh C số tiền 30.000.000đồng, bị cáo Nguyễn Nhật T phải bồi thường cho anh C số tiền 28.640.500 đồng và ông Nguyễn Văn T1 phải bồi thường cho anh C số tiền 5.000.000đồng.

    “Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án

xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp và quản lý án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn L phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đồng án phí dân sự sơ thẩm; cộng chung là 1.700.000đồng án phí sơ thẩm.

    Buộc bị cáo Nguyễn Nhật T phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 1.432.000đồng án phí dân sự sơ thẩm; cộng chung là 1.632.000đồng án phí sơ thẩm. Buộc ông Nguyễn Văn T1 phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (21/6/2024), riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKS, CA huyện Lâm Hà;
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Chi cục THADS huyện Lâm Hà;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS - BP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thúy

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS - ST ngày 21/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 96/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn L cùng đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger