|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HNGĐ-ST Ngày: 29-12- 2025 “V/v Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Trần Mộng Thúy
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Ngọc Duyên
- Ông Hà Minh Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Tuyết Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7- An Giang tham gia phiên tòa: Ông Danh Bình- Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2025/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 151/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Ngô Bảo X, sinh ngày 01/01/1986
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1989
Địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh An Giang.
(Anh Ngô Bảo X có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp L, xã A, tỉnh An Giang
(Chị Nguyễn Thị T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án của nguyên đơn là anh Ngô Bảo X:
Anh Ngô Bảo X và chị Nguyễn Thị T tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2008, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang vào ngày 21/01/2008. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, nhưng thời gian sau thường xảy ra cự cãi bất hòa làm cho đời sống chung không còn hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh chị không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã cố gắng để hòa hợp nhưng không thành và đã sống ly thân nhau. Anh Ngô Bảo X nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với chị Nguyễn Thị T nên làm đơn đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có 03 người con chung là Ngô Văn K, sinh ngày 06/01/2008; Ngô Kim L, sinh ngày 26/5/2013 và Ngô Kim L1, sinh ngày 12/8/2018. Khi ly hôn anh Ngô Bảo X đồng ý giao 03 con chung cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng, anh Ngô Bảo X không cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Ngô Bảo X xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn- chị Nguyễn Thị T vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu ly hôn của anh Ngô Bảo X.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn – Anh Ngô Bảo X có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị T, đồng ý giao 03 con chung là Ngô Văn K, sinh ngày 06/01/2008; Ngô Kim L1, sinh ngày 12/8/2018 và Ngô Kim L, sinh ngày 26/5/2013 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng nuôi, anh Ngô Bảo X không cấp dưỡng nuôi con và xác định không có tài sản chung, không có nợ chung.
* Vị Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định, nguyên đơn Anh Ngô Bảo X có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn. Bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu xin ly hôn của anh Ngô Bảo X là có cơ sở, đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn ly hôn của anh Ngô Bảo X. Về con chung giao 03 con chung là Ngô Văn K, sinh ngày 06/01/2008; Ngô Kim L1, sinh ngày 12/8/2018 và Ngô Kim L, sinh ngày 26/5/2013 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng nuôi và xác định không có tài sản chung, không có nợ chung nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Viện kiểm sát Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Anh Ngô Bảo X khởi kiện xin ly hôn với chị Nguyễn Thị T có nơi cư trú tại ấp L, xã A, tỉnh An Giang. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, xác định đây là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 7- An Giang.
- Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đến bị đơn - chị Nguyễn Thị T biết về việc anh Ngô Bảo X khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị T nhưng chị Nguyễn Thị T không có ý kiến gì và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Toà án tổ chức và thông báo cho các bên đương sự để tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đoàn tụ, nhưng chị Nguyễn Thị T vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do. Nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Nguyên đơn anh Ngô Bảo X có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và giữ nguyên ý kiến như đơn khởi kiện ly hôn. Bị đơn chị Nguyễn Thị T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 theo triệu tập hợp lệ của Tòa án. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Xét đơn khởi kiện của anh Ngô Bảo X và các vấn đề liên quan đến vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Bảo X và chị Nguyễn Thị T tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện A, tỉnh Kiên Giang (nay là xã A, tỉnh An Giang) và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 13/2008 ngày 21/01/2008 phù hợp theo quy tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp. Anh Ngô Bảo X yêu cầu xin ly hôn với chị Nguyễn Thị T, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng chị Nguyễn Thị T vắng mặt và không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Ngô Bảo X. Anh Ngô Bảo X khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị T với lý do: Anh Ngô Bảo X không còn tình cảm vợ chồng với chị Nguyễn Thị T và đã sống ly thân với chị Nguyễn Thị T hơn 06 tháng kể từ ngày làm đơn xin ly hôn. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Ngô Bảo X và chị Nguyễn Thị T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ngô Bảo X.
- Về con chung: Tại đơn xin ly hôn anh Ngô Bảo X xác định có 02 con chung là Ngô Văn K, sinh ngày 06/01/2008 và Ngô Kim L1, sinh ngày 12/8/2018. Tuy nhiên, trong quá trình thu thập chứng cứ anh Ngô Bảo X khai cháu Ngô Kim L, sinh ngày 26/5/2013 là con chung của anh với chị Nguyễn Thị T và cung cấp giấy khai sinh hợp pháp. Do đó, xác định con chung của anh Ngô Bảo X với chị Nguyễn Thị T là Ngô Văn K, sinh ngày 06/01/2008; Ngô Kim L1, sinh ngày 12/8/2018 và Ngô Kim L, sinh ngày 26/5/2013. Anh Ngô Bảo X có ý kiến đồng ý giao 03 con chung cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng. Đồng thời tại văn bản trình bày nguyện vọng các cháu Ngô Văn K; Ngô Kim L1 và Ngô Kim L có nguyện vọng sống cùng mẹ. Ý kiến của anh Ngô Bảo X phù hợp nguyện vọng của 03 con chung. Căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử giao con chung cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng. Anh Ngô Bảo X và chị Nguyễn Thị T đều có quyền và nghĩa vụ ngang nhau đối với con chung. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con chung theo quy định pháp luật.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Ngô Bảo X không có ý kiến về cấp dưỡng nuôi con và chị Nguyễn Thị T cũng không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp cấp dưỡng nuôi con thì khởi kiện thành vụ kiện khác để được xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Anh Ngô Bảo X xác định không có tài sản chung, không có nợ chung, chị Nguyễn Thị T cũng không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.
[3] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Ngô Bảo X là có cơ sở, phù hợp quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nguyên đơn anh Ngô Bảo X phải chịu án phí ly hôn theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227; khoản và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự;
Căn cứ Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Bảo X được ly hôn với chị Nguyễn Thị T.
- Về con chung: Giao con chung là Ngô Văn K, sinh ngày 06/01/2008; Ngô Kim L1, sinh ngày 12/8/2018 và Ngô Kim L, sinh ngày 26/5/2013 cho chị Nguyễn Thị T nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Anh Ngô Bảo X xác định không có, chị Nguyễn Thị T cũng không có ý kiến nên không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nếu các bên phát sinh tranh chấp sẽ khởi kiện yêu cầu giải quyết trong vụ án khác.
- Về án phí: Nguyên đơn anh Ngô Bảo X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001289 (Ký hiệu: BLTU/25E) ngày 29 tháng 8 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Anh Ngô Bảo X đã nộp đủ.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền đến thăm nom và chăm sóc con chung mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Khi cần thiết anh, chị có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
* Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trần Mộng Thúy |
Bản án số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 29/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- AN GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 96/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, Tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7- AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận
