|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 97/2025/DS-PT
Ngày 20 - 6 - 2025
V/v Tranh chấp về đòi lại tài sản và
chia thừa kế tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Vĩnh Thành
Ông Nguyễn Xuân Trọng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 18 và 20 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 81/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 9 năm 2024 về việc “Tranh chấp về đòi lại tài sản và chia thừa kế tài sản”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc bị kháng cáo kháng nghị.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 116/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn C, sinh năm 1953;
Người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn C: Anh Trần Đình C1, sinh năm 1986, có mặt (văn bản ủy quyền ngày 29/11/2022)
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Trần Văn C:
+ Ông Vũ Văn D và ông Lương Văn C2 - Luật sư Công ty L9 và cộng sự, có mặt.
Địa chỉ: Số G, đường T, phường L, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc
+ Ông Nguyễn An B - Luật sư Văn phòng L10 và cộng sự; Địa chỉ: P, Chung cư E, Tổ dân phố T, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội, có mặt.
Bị đơn: Anh Trần Văn L, sinh năm 1973, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1975, có mặt.
- Anh Trần Công H1, sinh năm 2000, vắng mặt.
- Chị Trần Thị P, sinh năm 1998, vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người đại diện theo ủy quyền của anh L, anh H1, chị P là chị Nguyễn Thị H sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (văn bản ủy quyền ngày 07/01/2025)
- Ông Trần Đình M, sinh năm 1959, vắng mặt.
- Ông Trần Quang S, sinh năm 1961, vắng mặt.
- Bà Trần Thị B1, sinh năm 1965, vắng mặt.
- Bà Trần Thị Thúy N, sinh năm 1970, vắng mặt.
- Ông Trần Duy T, sinh năm 1972, vắng mặt.
- Bà Trần Thị Thúy B2, sinh năm 1975, vắng mặt.
- Anh Trần Như T1, sinh năm 1993, vắng mặt.
- Bà Hà Thị Đ, sinh năm 1957, vắng mặt.
- Ông Hà Văn D1, sinh năm 1968, vắng mặt.
- Bà Hà Thị H2, sinh năm 1977, vắng mặt.
- Ông Hà Văn Đ1, sinh năm 1960, vắng mặt.
- Bà Hà Thị L1 (tên gọi khác Phạm Thị L2), sinh năm 1974, vắng mặt.
- Ông Hà Văn T2 (tên khác Lý Văn S1), sinh năm 1962, vắng mặt. Địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
- Chị Hà Thị H3 sinh năm 1981, vắng mặt.
- Anh Hà Văn T3 sinh năm 1977, vắng mặt.
- Anh Hà Văn T4 sinh năm 1978, vắng mặt.
Địa chỉ: thôn Văn Lâm 1, xã Liêm Tiết, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam
Địa chỉ: Số D, T, tổ dân phố N, thị trấn T, huyện T, tỉnh Hà Nam.
Địa chỉ: Tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa chỉ: 1 N, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam.
Đều có địa chỉ: Xóm Đ, xã D, huyện H, thành phố Hà Nội.
Địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam.
Đều có địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam.
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Địa chỉ: Tổ dân phố Đ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Anh Hà Duy K sinh năm 1994, vắng mặt.
- Anh Hà Văn N1 sinh năm 1986, vắng mặt.
- Anh Hà Thịnh S2 sinh năm 1988, có mặt.
- Bà Nguyễn Thị L3 sinh năm 1966, vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chị Hà Thị B3 sinh năm 1983, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bà Trần Thị H4, sinh năm 1967, vắng mặt.
Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bà Trần Thị L4, sinh năm 1963, vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố S, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bà Trần Thị N2, sinh năm 1944, vắng mặt.
Địa chỉ: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Đình M, ông Trần Quang S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thúy N, ông Trần Duy T, bà Trần Thị Thúy B2, anh Trần Như T1, bà Hà Thị Đ, ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, ông Hà Văn Đ1, bà Hà Thị L1 (Phạm Thị L2), ông Hà Văn T2 (Lý Văn S1); bà Trần Thị H4, bà Trần Thị L4, anh Hà Văn T3, anh Hà Văn T4, anh Hà Duy K, chị Hà Thị B3, anh Hà Văn N1, anh Hà Thịnh S2, bà Nguyễn Thị L3, chị Hà Thị H3, bà Trần Thị N2 là anh Trần Đình C1, sinh năm 1986; (văn bản ủy quyền ngày 03 và ngày 04/01/2025); địa chỉ: Tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
Người kháng cáo:
Ông Trần Văn C là nguyên đơn
Ông Trần Văn L là bị đơn
Chị Nguyễn Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
Viện kiểm sát kháng nghị : Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và các lời khai tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Cụ Trần Văn L5 (sinh năm 1905, chết năm 1998) và cụ Trần Thị T5 (Chừng) (sinh năm 1907, chết 1956), hai cụ có 07 người con là:
- Ông Trần Văn T6 sinh năm 1929, hy sinh năm 1952, không có vợ con.
- Ông Trần Đình N3 (sinh năm 1930, 1996) có vợ bà Trần Thị N4 (sinh năm 1928, chết năm 1914). Ông N3 có 07 con là ông Trần Đình M, ông Trần
Quang S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Thúy N, ông Trần Huy T7, bà Trần Thị Thúy B2, ông Trần Cao K1 chết năm 1993 có vợ Nguyễn Thị L6 và có con là Trần Như T1.
- Bà Trần Thị B4 (chết năm 2006) có chồng ông Hà văn Y (chết năm 1975) bà B4 có 07 con là bà Hà Thị Đ, ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, ông Hà Văn Đ1, bà Hà Thị L1 (tức Phạm Thị L2), ông Hà Văn T2 (tức Lý Văn S1) và ông Hà Văn Đ2 (sinh năm 1956, chết 2014, ông Đ2 có vợ Nguyễn Thị L3 sinh năm 1966 và có 7 người con: anh Hà Văn T3, anh Hà Văn T4, chị Hà Thị H3, chị Hà Thị B3, anh Hà Văn N1, anh Hà Thịnh S2, anh Hà Duy K.
- Ông Trần Mạnh N5 (sinh năm 1940, hy sinh năm 1968), có vợ Nguyễn Thị L7, sinh năm 1942. Ông N5 có 2 con là bà Trần Thị L4, bà Trần Thị H4;
- Bà Trần Thị N2 sinh năm 1944
- Ông Trần Văn T8 sinh năm 1950, hy sinh 1970
- Ông Trần Văn C sinh năm 1953
Năm 1956 cụ Trần Thị T5 (Chừng) chết, cụ L5 ở vậy không kết hôn với ai, không sinh thêm người con nào với ai khác, không nhận ai làm con nuôi và nhận ai làm bố mẹ nuôi. Đến năm 1964 cụ Trần Văn L5 đã di cư vùng kinh tế mới để làm ăn tại thôn Ấ, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phú nay là tổ dân phố Ấ thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cụ Trần Văn L5 đã khai hoang được tài sản là thửa đất theo bản đồ 299 là thửa số 11, tờ bản đồ số 10, có diện tích là 1.311m², đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cụ L5 và cụ T5 (Chừng) có 03 con hi sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, cụ Trần Thị C3 được Nhà nước truy tặng bà mẹ Việt Nam A. Do đó, năm 1993 cụ L5 được Nhà nước xây cho căn nhà tình nghĩa cấp bốn 3 gian, để ở và thờ cúng các anh hùng liệt sỹ và bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Ngày 09/04/1998 cụ Trần Văn L5 chết, không để lại di chúc, thời điểm này ông Trần Văn C vẫn ở trên căn nhà tranh đắp đất ở trên thửa đất số 11, tờ bản đồ số 10 để thờ cúng tổ tiên, bà mẹ Việt Nam anh hùng và các anh hùng liệt sỹ. Năm 2007 anh Trần Văn L (con trai ông C) nói cụ L5 lập di chúc cho anh toàn bộ di sản trên và đất canh tác nông nghiệp, nên đã đánh, đuổi đuổi ông Trần Văn C ra khỏi thửa đất trên. Ông C do hoảng sợ đã tạm thời phải sang thửa đất bên cạnh đóng gạch xi măng làm căn nhà cấp 4 để ở cho đến ngày nay.
Ngày 12/07/2007 ông Trần Văn C đã có đơn khởi kiện anh Trần Văn L để đòi tài sản và yêu cầu chia di sản thừa kế đến Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo. Tại tòa Á, anh Trần Văn L xuất trình bản di chúc viết đề 01/07/1997 và nói rằng cụ L5 có di chúc để lại cho anh tài sản là 01 sào 07 thước đất thổ cư và ngôi nhà Tình nghĩa cùng toàn bộ đất canh tác của cụ, ông C rút yêu cầu chia thừa kế. Tại bản án sơ thẩm số 02/2008/DS- ST ngày 28/02/2008, tòa án nhân dân huyện Tam Đảo đã đình chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế và không chấp nhận yêu cầu kiện đòi tài sản là nhà cấp 4 và 528 m² đất. Công nhận anh L được thừa kế theo
di chúc của cụ L5 là nhà cấp 4 và 528 m² đất. Các đương sự đều kháng cáo, ngày 29/04/2008 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định trưng cầu giám định và tại bản kết luận giám định số 180/ KLGĐ-PC21 ngày 28/05/2008 đã kết luận chữ ký và chữ viết trong bản di chúc của anh L nộp cho Tòa án so với tài liệu mẫu và chữ ký bằng bút mực trên quyển sổ chữ Trung Quốc (chữ nho) tài liệu mẫu là không phải do cùng một người ký ra. Cấp phúc thẩm kết luận: Bản di chúc do anh L nộp cho Tòa án không phải là bản di chúc của cụ L5 để lại. Tại bản án số 60/2008/DSPT ngày 18/08/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã đình chỉ yêu cầu chia di sản thừa kế của ông C và bác yêu cầu của ông C đòi lại nhà cấp 4 và 528 m² đất. Hủy bỏ bản di chúc 01/07/1997 của cụ Trần Văn L5. Bản án phúc thẩm có nhận định “thửa đất đang tranh chấp có nguồn gốc là của cụ L5, anh L đã xuất trình cho Tòa án bản di chúc của cụ L5 nhưng khi giám định chữ ký và chữ viết trong bản di chúc này không phải do cụ L5 ký và viết ra vì vậy không công nhận bản di chúc trên nhưng trong sổ địa chính thì anh L là người đứng tên và anh L vẫn tiến tục quản lý. Khi nào người có quyền thừa kế tài sản của cụ được khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ L5 thì thửa đất đó sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật”.
Như vậy đất thuộc tờ bản đồ số 10, số thửa 11, có diện tích 1.311m², trên đất có một ngôi nhà tình nghĩa 3 gian, cấp 4, xây năm 1993, hiện nay anh L đang sử dụng có nguồn gốc đất của cụ L5 khai hoang, có sau khi cụ T5 (Chừng) chết, là tài sản riêng của cụ L5 nên tài sản này không phải là tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Ông C đề nghị Tòa án buộc anh Trần Văn L trả lại thửa đất của cụ Trần Văn L5 và chia thừa kế tài sản của cụ L5 để lại theo pháp luật. Tài sản thừa kế gồm quyền sử dụng đất có diện tích 1.311m² thuộc tờ bản đồ số 10; thửa số 11; địa chỉ tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, trên đất có một ngôi nhà tình nghĩa cấp bốn 3 gian. Ông C đề nghị được hưởng 187m² đất thừa kế.
Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan thuộc hàng thừa kế của cụ L5 đều thống nhất từ chối nhận phần đất là tài sản thừa kế của cụ L5 để lại và đều thống nhất để lại phần đất được hưởng cho ông Trần Văn C toàn bộ, ủy quyền cho anh Trần Đình C1 tham gia giải quyết vụ án. Ông C nhất trí với việc tặng cho tài sản này và đồng ý nhận toàn bộ tài sản thừa kế được tặng cho.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Không nhất trí với nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tài sản ông C đề nghị chia thừa kế của cụ T5 và cụ L5 thì thời hiệu chia tài sản của cụ T5 đã hết, đề nghị Tòa án áp dụng về thời hiệu chia thừa kế. Ngoài ra, tài sản cụ L5 đã di chúc cho lại vợ chồng anh L, chị H nên không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Nguyễn Thị H (vợ anh L) và anh Trần Công H5, chị Trần Thị P (con trai và con dâu của anh L). Chị H
cùng anh L xây nhà năm 2010 các con còn nhỏ, không có đóng góp gì, năm 2023 sửa nhà thì có cùng gia đình cùng làm và hiện nay đang cùng ở cùng với vợ chồng anh chị. Phần tài sản làm thêm làm cùng gia đình không có mức cụ thể, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Quá trình giải quyết cấp sơ thẩm đã xem xét thẩm định và định giá tài sản tại chỗ. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Thửa đất số 40 tờ bản đồ số 58 có diện tích là 1.387m², đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Quyết định 42/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 được sửa đổi bổ sung Quyết định 28/2016/QĐ-UBND ngày 18/5/2016 hạn mức đất ở tại tỉnh Vĩnh Phúc tối đa là 180m². Hội Đồng định giá 5.500.000đ/m² đất vườn và 10.000.000đ/m² đất ở; tổng trị giá đất là 8.438.500.000đ (Tám tỷ bốn trăm ba mươi tám triệu năm trăm nghìn) và định giá các tài sản trên có đất theo quy định của pháp luật.
Với nội dung vụ án như trên, Tại bản án sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc đã tuyên:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 357, 468, 609, 612, 616, 617, 618 623, 649, 651, 652 điểm a khoản 1 Điều 650 của Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C về yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản và chia thừa kế.
I. Xác nhận di sản thừa kế của cụ Trần Văn L5 để lại là: Thửa đất số 40, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.387m² đất và 01 nhà tình nghĩa cấp 4 ba gian tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
II. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị N2, ông Trần Đình M, ông Trần Quang S, anh Trần Như T1, bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Thúy N, ông Trần Huy T7, bà Trần Thị Thúy B2, bà Trần Thị L4, bà Trần Thị H4, bà Hà Thị Đ, ông Hà Văn Đ1, ông Hà Văn D1, bà Hà Thị L1 (tên gọi khác Phạm Thị L2) bà Hà Thị H2, tặng cho toàn bộ kỷ phần thừa kế cho ông Trần Văn C.
III. Phân chia di sản thừa kế như sau:
1. Chia cho ông Trần Văn C được quyền sử dụng 1.155,8m² đất (trong đó 150m² đất ở và 1.005,8m² đất vườn) thuộc thửa đất số 40 tờ bản đồ số 58 tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc trên đất có 01 nhà tình nghĩa cấp 4 ba gian 01 giếng đào, 01 cây xanh bóng mát, 17 cây sưa và các tài sản do anh L xây dựng, trồng bao gồm: 01 sân lát gạch đỏ phía trước nhà cấp 4; 01 truồng
gà, 01 dãy truồng trại chăn nuôi; 05 cây sưa; 02 cây sung; 01 cây bưởi; 03 cây sấu, 01 cây khế, 01 bới tre trúc, 03 cây hồng xiêm, 07 cây mít, 12 cây sưa, 02 cây ổi, 01 cây xoài, 02 cổng sắt được đánh số theo hình có các điểm 1, 13 12,11,10,9,8,7,6,5,4,3,2,1, B,C,D,A ký hiệu P1 (có sơ đồ kèm theo).
2. Chia cho anh Trần Văn L được quyền sử dụng 231m²đất (trong đó 30 m² đất ở, 201 m² đất vườn) trên đất có nhà 02 tầng diện tích 140.5 m², chống nóng 73 m², mái tôn, trụ cổng và 02 cổng sắt, bể phốt; được đánh số theo hình có các điểm A, B, C, D ký hiệu P2 (có sơ đồ kèm theo).
IV. Về thanh toán giá trị tài sản.
Buộc ông Trần Văn C phải có nghĩa vụ thanh toán phần tài sản được sử dụng trên đất cho anh Trần Văn L 36.680.000đ.
Ngoài ra bản án còn tuyên án phí, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 07/5/2024 bị đơn anh Trần Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm vì bản án đánh giá tài liệu chứng cứ không đúng pháp luật. Nguyên đơn ông Trần Văn C kháng cáo không đồng ý bản sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm.
Ngày 16/5/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo kháng nghị bản án, đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm vì Bản án có vi phạm trong việc tính án phí buộc anh L phải chịu án phí 54.165.000đồng là không đúng quy định tại điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo. Bị đơn anh L và hai con là anh H5, chị P đều ủy quyền cho chị H: Chị H trình bày: Thửa đất tranh chấp của L5, ông C đã từng bán đi, cụ L5 và anh L đi chuộc về, cụ đã có di chúc để cho anh L nên đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông C.
Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm, tòa án có lấy lời khai của vợ và các con ông Hà Văn Đ2, những người này đều xác định nếu được hưởng di sản từ cụ L5 để lại thì sẽ cho ông C và đồng ý ủy quyền cho anh C1 tham gia tố tụng tại cấp phúc thẩm. tại phiên tòa phúc thẩm anh Hà Thịnh S2, mặc dù đã ủy quyền cho anh C1 nhưng vẫn có mặt và khẳng định: nếu được hưởng di sản của cụ L5 thì mẹ và các anh em nhà anh đều cho ông C.
Tòa án cấp phúc thẩm có công văn trao đổi Ban Quản lý dự án xây dựng và GPMT huyện T; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T; Ủy ban nhân dân thị trấn Đ: đối với thửa đất số 40, tờ bản đồ số 58, có diện tích 1.387m² đất theo bản đồ VN B tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không? có nằm trong quy hoạch và bị thu hồi không? Nếu được cấp thì được cấp bao nhiêu m² đất ở và
bao nhiêu m² đất vườn? Ban Quản lý dự án xây dựng và GPMT huyện T có công văn 252/BQLDA ngày 04/12/2024 trả lời: “Đến thời điểm hiện nay, thửa đất chưa có kế hoạch thu hồi”; Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T có công văn 06/CV-TNMT ngày 15/01/2025 trả lời cấp xã sẽ có thẩm quyền xác định; tại công văn số 41/UBND-ĐCMT ngày 20/01/2025, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ xác định: thửa đất số 40, tờ bản đồ số 58, có diện tích 1.387m² đất theo bản đồ VN B tại tổ dân phố Á, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có đủ điều kiện hướng dẫn kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có 200 m² ở còn lại là đất trồng cây lâu năm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giữ nguyên nội dung kháng nghị và phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Toà án đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; Về phía các đương sự đã chấp hành đúng nhiệm vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: Chấp nhận kháng nghị và không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn C, bị đơn anh Trần Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc về phần án phí sơ thẩm theo hướng anh L không phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các đương sự và kháng nghị của viện kiểm sát được làm trong hạn luật định, được chấp nhận xem xét.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền: Cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ tranh chấp và vụ án thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân huyện Tam Đảo.
Về những người tham gia tố tụng: Qúa trình giải quyết và Quyết định đưa vụ án ra xét xử, cấp sơ thẩm đã xác định đầy đủ những người tham gia tố tụng nhưng khi xét xử và ban hành bản án thì thiếu những người tham gia tố tụng là vợ và con ông Hà Văn Đ2 là bà Nguyễn Thị L3 và anh Hà Văn T3, anh Hà Văn T4,anh Hà Duy K, chị Hà Thị B3, anh Hà Văn N1, anh Hà Thịnh S2, chị Hà Thị H3. Quá trình giải quyết tại cấp phúc thẩm đã hỏi và những người này đồng
ý tham gia tại cấp phúc thẩm và ủy quyền cho anh C4 nên cấp phúc thẩm đã khắc phục cho cấp sơ thẩm, cấp sơ thẩm cần nghiêm túc rút kinh nghiệm.
[2.] Về nội dung:
[2.1]. Xét kháng cáo của ông Trần Văn C, không đồng ý chia cho anh L 1 suất thừa kế vì anh L không phải là người được hưởng thừa kế. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền cho ông C đề nghị thanh toán cho anh L giá trị nhà và đất bằng tiền theo gía hội đồng định giá vì cho rằng anh L có hành vi đánh ông C nên không thể chung sống trên cùng mảnh đất với ông C được.
Quá trình giải quyết, cấp sơ thẩm xác định di sản thừa kế của cụ L5 là nhà tình nghĩa cấp 4 ba gian và 1387 m² đất tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc và toàn bộ khối di sản này anh L đang quản lý nên đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện đòi tài sản và chia thừa kế của ông C là phù hợp. Tòa án sơ thẩm đã trích cho vợ chồng anh Trần Văn L được hưởng tương đương 01 suất thừa kế là công sức chăm sóc, phụng dưỡng cụ L5 và công sức duy trì, tôn tạo thửa đất. Phần di sản còn lại chia thành 05 suất cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất còn sống tại thời điểm mở thừa kế và thừa kế thế vị của những người thừa kế chết trước cụ L5. Những người được hưởng di sản của cụ L5 đều đều từ chối nhận và tặng cho ông C nên cấp sơ thẩm đã ghi nhận và chia cho ông C phần di sản của ông Trần Đình M, ông Trần Quang S, bà Trần Thị B1, bà Trần Thúy N, ông Trần Duy T, bà Trần Thị Thúy B2, anh Trần Như T1, bà Hà Thị Đ, ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, ông Hà Văn Đ1, bà Hà Thị L1 (Phạm Thị L2), ông Hà Văn T2 (Lý Văn S1); bà Trần Thị H4, bà Trần Thị L4, anh Hà Văn T3, anh Hà Văn T4, anh Hà Duy K, chị Hà Thị B3, anh Hà Văn N1, anh Hà Thịnh S2, bà Nguyễn Thị L3, chị Hà Thị H3, bà Trần Thị N2 là phù hợp.
Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Anh Trần Văn L tuy không phải hàng thừa kế của cụ L5 nhưng sau khi cụ L5 chết anh L vẫn ở, tôn tạo và quản lý di sản của cụ L5 từ năm 1998 cho đến nay. Năm 2010 anh L đã xây nhà 02 tầng, năm 2023 có xây thêm tầng ba chống nóng. Tại thời điểm anh L xây nhà các hàng thừa kế không có ai có ý kiến phản đối, cho nên theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 618 của Bộ luật dân sự năm 2015 anh L được thanh toán chi phí bảo quản di sản. Anh L xây nhà ổn định từ năm 2010 cho đến nay, ngoài ngôi nhà này, anh L không có chỗ ở nào khác nên cần trích công sức, duy trì, bảo quản di sản là diện tích đất anh L đã xây nhà để anh L tiếp tục có nơi ở là phù hợp.
Theo kết quả đo vẽ của Công Ty đo đạc, nhà của anh L đã xây năm 2010 có diện tích 140,5m, diện tích chống nắng tầng 3 là 72,5m², phần sân, bể phốt gắn liền kề, mái le cần chia phần đất có nhà cho anh L tương đương với 1 xuất thừa kế bằng 231,1m² (làm tròn 231 m²) và Theo Quyết định 42/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 được sửa đổi bổ sung Quyết định 28/2016/QĐ-UBND ngày 18/5/2016 hạn mức đất ở tại tỉnh Vĩnh Phúc tối đa là 180m² nên Tòa án
cấp sơ thẩm chia cho ông C được quyền sử dụng 1.155,8m² đất (trong đó 150m² đất ở và 1.005,8m² đất vườn) thuộc thửa đất số 40 tờ bản đồ số 58 tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc cùng tài sản trên đất và chia cho anh Trần Văn L được quyền sử dụng 231m² đất (trong đó 30m² đất ở, 201m² đất vườn) cùng tài sản trên đất. Cấp sơ thẩm chia như vậy là đã đảm bảo quyền lợi cho ông C. Tại phiên tòa phúc thẩm phía nguyên đơn đưa lý do có mâu thuẫn nên không thể để anh L chung sống cùng ông C trên 1 thửa đất và muốn thanh toán bằng tiền cho anh L đối với diện tích 231m² đất và giá trị ngôi nhà anh L xây trên đất nhưng anh L không đồng ý nhận tiền và anh L không có chỗ ở nào khác nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông C.
[2.2]. Xét kháng cáo của anh Trần Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm, do thu thập tài liệu, chứng cứ không khách quan, Tại phiên tòa phúc thẩm, anh L và chị H trình bày: Trước khi cụ L5 chết đã tự tay viết 01 bản đơn đề nghị chuyển toàn bộ 03 gian nhà tình nghĩa của cụ cùng toàn bộ diện tích đất cụ khai hoang tại thửa số 11, tờ bản đồ số 10 theo bản đồ địa chính 299, tại Ấp Đ, Đ, T, Vĩnh Phúc cho anh L. Mặt khác, vào năm 1988 khi Cụ L8 về quê ở, toàn bộ diện tích đất, nhà của cụ đã bị ông Trần Văn C bán cho ông Hà Văn N6, trú tại S, Đại Đình T để lấy tiền chi tiêu cho ông và gia đình ông. Ba năm sau cụ L8 quay về cụ L8 và anh L đã phải đến nhà ông N6 để thuyết phục cho chuộc lại và số tiền để chuộc lại do anh L đi làm thuê mà có để trả lại cho ông N6 thì mảnh đất mới còn đến tận bây giờ. Chị H nộp đơn của ông N6 xác nhận ông C bán cho ông giá 400.000.000 đồng, sau đó cụ L8 và anh L đến chuộc lại. Tại phiên tòa ngày 05/12/2024, ông C cũng xác nhận do khó khăn nên đã bán đất cho ông N6 để lấy tiền nuôi các con, anh L còn nhỏ không có tiền chuộc mà cụ L8 và gia đình ông vay đi chuộc về.
Hội đồng xét xử thấy, trước đây do khó khăn ông C có bán thửa đất của cụ L8 cho ông N6 để lấy tiền nuôi các con. Chị H cho rằng anh L cùng cụ L8 chuộc đất nhưng không có căn cứ chứng minh anh L góp tiền cùng cụ L8 chuộc đất vì thời gian đó anh L còn nhỏ nên ông C khai cụ L8 và vợ ông vay tiền đi chuộc mảnh đất về là phù hợp. Anh L và chị H cho rằng cụ L8 đã có di chúc ngày 01/7/1997 là “Đơn chuyển tên đất thổ cư” để lại cho anh đất và nhà nhưng tại Bản án phúc thẩm số: 60/2008/DS- PT ngày 18 tháng 8 năm 2008 Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã xác định không phải chữ ký và chữ viết của của cụ L8 nên đã hủy bỏ di chúc. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật, các đương sự không có ai có khiếu nại theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định di sản của cụ L8 là Thửa đất số 11 tờ bản đồ số 10, diện tích là 1.311m² và nhà tình nghĩa cấp bốn 3 gian tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T (theo bản đồ 299), tiến hành chia thừa kế theo pháp luật là có căn cứ. Anh L không phải là người được hưởng di sản nhưng Tòa án cấp sơ
thẩm đã trích công sức bảo quản, duy trì di sản cho anh L được hưởng 231m² đất (trong đó 30m² đất ở, 201m² đất vườn) cùng tài sản trên đất là đảm bảo quyền lợi của anh L. Khi xét xử sơ thẩm, cấp sơ thẩm căn cứ theo Quyết định 42/2014/QĐ-UBND ngày 15/9/2014 được sửa đổi bổ sung Quyết định 28/2016/QĐ-UBND ngày 18/5/2016 hạn mức đất ở tại tỉnh Vĩnh Phúc tối đa là 180m² nên Tòa án cấp sơ thẩm chia cho ông C 150m² đất ở và anh Trần Văn L 30m² đất ở là có căn cứ, đúng quy định. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, Ủy ban nhân dân thị trấn Đ xác định tại công văn số 41/UBND-ĐCMT ngày 20/01/2025: thửa đất số 40, tờ bản đồ số 58, có diện tích 1.387m² đất theo bản đồ VN B tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc có đủ điều kiện hướng dẫn kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong đó có 200 m² ở còn lại là đất trồng cây lâu năm; đồng thời theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 12 Quy định cụ thể một số điều của Luật đất đai thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh V kèm theo Quyết định 46/2024/QĐ-UBND ngày 15/10/2024 của UBND tỉnh V thì điều kiện tách thửa đối với thửa đất có đất ở và đất khác trong cùng thửa đất thì: Thửa đất có đất ở sau tách thửa để hình thành thửa đất mới phải đảm bảo diện tích đất ở tối thiểu 50 m². Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần tăng diện tích đất ở cho anh L lên 50 m² để anh L có đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận và như vậy cũng phù hợp với công sức bảo quản, duy trì tài sản anh L trên thửa đất.
Từ những phân tích trên cho thấy, anh L và chị H kháng cáo nhưng không xuất trình được tài liệu chứng minh cho đề nghị của mình nên kháng cáo không được chấp nhận.
[2.3]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo về phần án phí, nhận thấy:
Trong vụ án này, anh Trần Văn L là bị đơn không có yêu cầu phản tố nhưng được Toà án chấp nhận chia cho anh L 01 phần di sản là công sức duy trì, gìn giữ di sản. Anh L là người thứ ba, không thuộc diện thừa kế theo pháp luật nên không phải chịu án phí đối với phần tài sản được nhận. Trong trường hợp này, những người được thừa kế theo pháp luật phải chịu án phí sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà anh L được hưởng.Do đó, Bản án sơ thẩm buộc anh L phải chịu án phí 54.165.000đồng là không đúng quy định tại điểm b khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Kháng nghị của Viện KSND huyện T là có căn cứ cần được chấp nhận, sửa phần án phí theo hướng không buộc anh L chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần công sức được hưởng mà những người được hưởng di sản thừa kế phải chịu.
Mặt khác, cấp sơ thẩm tính án phí đối với ông C bị sai. Cụ thể: Ông C là người cao tuổi, có đơn xin miễn và được miễn toàn bộ án phí phần ông C được hưởng; ông Trần Đình M, ông Trần Quang S, bà Trần Thị N2, bà Trần Thị L4 cũng là người cao tuổi được miễn án phí; bà Trần Thị L4, Trần Thị H4 là thân nhân của liệt sỹ, gia đình có công với Cách mạng, có đơn xin miễn án phí và được Hội đồng xét xử xem xét chấp thuận. Các hàng thừa kế khác phải chịu án phí đối phần được hưởng thừa kế. Ông C đồng ý nhận tài sản được tặng cho từ các hàng thừa kế, tự nguyện nộp toàn bộ án phí đối với những người phải chịu án phí tặng cho ông C phần đất ông được hưởng. Như vậy mỗi hàng thừa kế được hưởng phần di sản của cụ L8 (cụ Đ3) là 231m² (trong đó đất ở là 30m² x 10.000.000đ+ đất vườn 201m² x 5.500.000đ +3.200.000đ nhà tình nghĩa = 1.408.700.000đồng.
Bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Thúy N, bà Trần Thị Thúy B2, anh Trần Cao T9, anh Trần Duy T mỗi người phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 1.408.700.000đồng: 7 x 5%= 10.062.000 đ (làm tròn). Số tiền ông C phải nộp cho những người trên là 50.310.000đ.
Bà Hà Thị Đ, ông Hà Văn Đ1, ông Hà Văn T2 là người cao tuổi, có đơn đề nghị miễn án phí nên được miễn án phí. Ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, bà Hà Thị L1 và suất ông Hà Văn Đ2 (phần bà L3 và con ông Đ2) mỗi người phải chịu án phí là 1.408.700.000đồng : 7 x 5%= 10.062.000 đ (làm tròn). Số tiền ông C phải nộp cho những người trên là 40.248.000đ.
Anh Trần Văn L không phải nộp án phí, mỗi suất được thừa kế theo pháp luật phải chịu án phí sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản mà anh L được hưởng là nên ông C phải nộp thay phần tài sản anh L được hưởng 995.500.000 + 500.000.000=1.495.500.000: 5 = 299.100.000 đ.
Ông C nộp thay bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Thúy N, bà Trần Thị Thúy B2, anh Trần Cao T9, anh Trần Duy T 299.100.000 đ :7 x 5% = 2.136.000. đồng x 5 = 10.682.000 đồng
Ông C nộp thay ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, bà Hà Thị L1 và suất ông Hà Văn Đ2 299.100.000 đ:7 x 5% = 2.136.000 đồng x 4 = 8.544.000 đồng.
Tổng số, ông C phải nộp phần án phí của bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Thúy N, bà Trần Thị Thúy B2, anh Trần Cao T9, anh Trần Duy T, ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, bà Hà Thị L1 và vợ con ông Hà Văn Đ2 là 109.784.000 đ án phí sơ thẩm.
Từ những phân tích trên cho thấy cấp sơ thẩm chấp nhận kiện đòi tài sản và phân chia thừa kế là hợp tình hợp lý nên kháng cáo của nguyên đơn ông Trần Văn C, bị đơn anh Trần Văn L và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị H không được chập nhận. Đối với kháng nghị của Viện kiểm sát có căn cứ nên được chấp nhận, cần sửa bản án về phần án phí .
Quá trình giải quyết cấp sơ thẩm có thiếu xót khi xác định những người tham gia tố tụng trong bản án nhưng quá trình giải quyết đã có lời khai và quyết định đưa ra xét xử đã đầy đủ nên cấp phúc thẩm khắc phục sai xót này.
[3] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Nguyên đơn tự nguyện nộp và chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí sơ thẩm:
Ông Trần Văn C là người cao tuổi, có đơn xin miễn và được miễn toàn bộ án phí phần ông C được hưởng và án phí thanh toán tài sản trên đất; Ông C phải nộp phần án phí của bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Thúy N, bà Trần Thị Thúy B2, anh Trần Cao T9, anh Trần Duy T, ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, bà Hà Thị L1 và vợ con ông Hà Văn Đ2 là 109.784.000 đ (một trăm linh chín triệu, bảy trăm tám tư nghìn đồng).
Anh Trần Văn L không phải nộp án phí.
Về án phí phúc thẩm: Vì sửa án nên anh L và chị H và ông C không phải chịu án phí phúc thẩm
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh V là có căn cứ cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn C, anh Trần Văn L và chị Nguyễn Thị H; chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đảo, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 02/2024/DS-ST ngày 02/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các Điều 357, 468, 609, 612, 616, 617, 618 623, 649, 651, 652 điểm a khoản 1 Điều 650 của Bộ luật dân sự; Điều 203 Luật đất đai; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn C về yêu cầu khởi kiện đòi lại tài sản và chia thừa kế.
I. Xác nhận di sản thừa kế của cụ Trần Văn L5 để lại là:
Thửa đất số 40, tờ bản đồ số 58, diện tích 1.387m² đất (trong đó 200 m² đất ở và 1.187m² đất trồng cây lâu năm) và 01 nhà tình nghĩa cấp 4 ba gian tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
II. Giao cho anh Trần Văn L được quyền sử dụng 231m² đất (trong đó 50 m² đất ở, 181 m² đất vườn) thuộc thửa đất số 40 tờ bản đồ số 58 tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trên đất có nhà 02 tầng diện tích 140,5 m², chống nóng 73 m², mái tôn, trụ cổng và 02 cổng sắt, bể phốt.... được đánh số theo hình có các điểm A, B, C, D ký hiệu S1 (có sơ đồ kèm theo).
III. Chia cho ông Trần Văn C được quyền sử dụng 1.156 m² đất (trong đó 150m² đất ở và 1.006 m² đất vườn) thuộc thửa đất số 40 tờ bản đồ số 58 tại tổ dân phố Ấ, thị trấn Đ, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Trên đất có 01 nhà tình nghĩa cấp 4 ba gian 01 giếng đào, 01 cây xanh bóng mát, 17 cây sưa và các tài sản do anh L xây dựng, trồng bao gồm: 01 sân lát gạch đỏ phía trước nhà cấp 4; 01 truồng gà, 01 dãy truồng trại chăn nuôi; 05 cây sưa; 02 cây sung; 01 cây bưởi; 03 cây sấu, 01 cây khế, 01 bới tre trúc, 03 cây hồng xiêm, 07 cây mít, 12 cây sưa, 02 cây ổi, 01 cây xoài, 02 cổng sắt ...được đánh số theo hình có các điểm 1, 13,12,11,10,9,8,7,6,5,4,3,2,B,C,D,A ký hiệu S2 (có sơ đồ kèm theo).
Các đương sự có quyền liên hệ cơ quan nhà nước để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
IV. Về thanh toán giá trị tài sản.
Buộc ông Trần Văn C phải có nghĩa vụ thanh toán phần tài sản được sử dụng trên đất cho anh Trần Văn L là 36.680.000đ (ba sáu triệu sáu trăm tám mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thanh toán trả số tiền trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả.
V. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Văn C là người cao tuổi, có đơn xin miễn và được miễn toàn bộ án phí phần ông C được hưởng và án phí thanh toán tài sản trên đất; Ông C phải nộp phần án phí của bà Trần Thị B1, bà Trần Thị Thúy N, bà Trần Thị Thúy B2, anh Trần Cao T9, anh Trần Duy T, ông Hà Văn D1, bà Hà Thị H2, bà Hà Thị L1 và vợ con ông Hà Văn Đ2 là 109.784.000 đ (một trăm linh chín triệu, bảy trăm tám tư nghìn đồng).
Về án phí dân sự phúc thẩm: do sửa bản án sơ thẩm nên ông Trần Văn C, anh Trần Văn L và chị Nguyễn Thị H không phải chịu. Anh Trần Văn L và chị Nguyễn Thị H, mỗi người được trả lại 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai số 0001722 và 0001722 ngày 08/5/2024 của chi cục thi hành án Dân sự huyện Tam Đảo.
Trường hợp Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án
dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a,7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
(Kèm theo bản án là sơ đồ hiện trạng thửa đất ngày 02/5/2024)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
15
Bản án số 97/2025/DS-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp về đòi lại tài sản và chia thừa kế tài sản
- Số bản án: 97/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đòi lại tài sản và chia thừa kế tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp kiện đòi tài sản và chia thừa kế tài sản
