Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2025/HNGĐ-ST

Ngày 12-6-2025

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Lý

Ông Hoàng Đức Cảnh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị T - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 104/2025/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2025 tranh chấp về việc ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXX-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn A khu V, xã Q, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1985; nơi cư trú: Thôn A khu V, xã Q, thành phố T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 02 tháng 12 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Nguyễn Thị T1 (nguyên đơn) khai:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, thành phố Hải Phòng (nay là UBND xã Q, thành phố T) theo Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 26 tháng 11 năm 2007. Quá trình chung sống vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do bất đồng quan điểm sống, tính cách. Do mẫu thuẫn nên đầu năm 2024, chị T1 đã sang Hàn Quốc lao động 06 tháng để tạo điều kiện cho vợ chồng suy nghĩ lại. Tuy nhiên, trong suốt quá trình đó vợ chồng vẫn không có tiếng nói chung vì vậy sau khi về nước thì chị T1 đã chuyển về nhà mẹ đẻ tại thôn G khu vực K, xã N sinh sống. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không có kết quả. Nay chị T1 nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị T1 yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn M.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị T1 khai chị và anh Nguyễn Văn M có ba con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008; Nguyễn Thị Thu P, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2013 và Nguyễn Quang H1, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2021. Ly hôn, chị T1 đồng ý để anh M trực tiếp nuôi dưỡng cả 3 con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M tự thỏa thuận và giao nhận với nhau nên chị Nguyễn Thị T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T1 không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 03 tháng 4 năm 2025, bị đơn là anh Nguyễn Văn M trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn M xác nhận quan hệ hôn chị Nguyễn Thị T1 đã trình bày trong đơn khởi kiện. Tuy nhiên, theo quan điểm của anh M thì vợ chồng anh không có mâu thuẫn, chỉ thỉnh thoảng vợ chồng có cãi vã nhau. Từ giữa năm 2024 đến nay chị T1 đã về nhà mẹ đẻ tại xã N sinh sống. Nay đối với yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị T1 thì quan điểm của anh M là không đồng ý. Trường hợp chị T1 vẫn kiên quyết ly hôn thì đó là quyền của chị T1.

Về con chung: Anh Nguyễn Văn M xác nhận anh và chị Nguyễn Thị T1 có ba con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008; Nguyễn Thị Thu P, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2013 và Nguyễn Quang H1, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2021. Trường hợp ly hôn, anh M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung vì từ trước đến nay các con đều do anh trực tiếp nuôi dưỡng.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn M và chị Nguyễn Thị T1 tự thỏa thuận và giao nhận với nhau nên anh Nguyễn Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Văn M không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán đã xác định đúng về thẩm quyền giải quyết vụ án; về quan hệ pháp luật tranh chấp; về tư cách tham gia tố tụng; về việc thu thập chứng cứ; về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện Kiểm sát; việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự; việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự tại phiên tòa đã được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị T1 được ly hôn với anh M. Về con chung: Giao ba con là Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Thu P, Nguyễn Quang H1 cho anh M được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Chị T1 và anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Về nghĩa vụ nộp án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về việc ly hôn. Bị đơn là anh Nguyễn Văn M có nơi cư trú tại thôn A khu vực H, xã Q, thành phố T, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T1 và bị đơn là anh Nguyễn Văn M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, chị T1 có đề nghị xét xử vắng mặt; anh M đã triệu tập nhưng vắng mặt lần thứ 2 mà không có lý do chính đáng. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T1 và anh M.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tuân theo các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt dẫn vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Mâu thuẫn đã được gia đình giải nhưng không có kết quả nên vợ chồng đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Hội đồng xét xử xét: Mâu thuẫn giữa chị T1 và anh M phát sinh kéo dài; mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình mà ở đó vợ chồng phải biết yêu thương, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt; phải được xây dựng trên nền tảng tình cảm, sự nỗ lực từ hai phía của cả vợ và chồng. Trên thực tế, quan hệ hôn nhân giữa chị T1 và anh M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn của chị T1 là có căn cứ, cần chấp nhận theo quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M có ba con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008; Nguyễn Thị Thu P, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2013 và Nguyễn Quang H1, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2021. Ly hôn, anh M có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung. Chị T1 có quan điểm đồng ý để anh M là người trực tiếp nuôi dưỡng cả ba con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện anh M có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định; từ khi vợ chồng sống ly thân, anh M là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung và đều đảm bảo tốt về mọi mặt; đồng thời các con chung đều có nguyện vọng được ở với bố. Vì vậy, cần giao cả ba con chung Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị Thu P và Nguyễn Quang H1 cho anh Nguyễn Văn M được trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình và phù hợp với tình hình thực tế.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[5] Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[6] Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14; xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị T1 được ly hôn với anh Nguyễn Văn M.

2. Về con chung: Giao ba con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 17 tháng 7 năm 2008; Nguyễn Thị Thu P, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2013 và Nguyễn Quang H1, sinh ngày 05 tháng 9 năm 2021 cho anh Nguyễn Văn M trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị T1 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010473 ngày 26 tháng 3 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị T1 đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: Chị Nguyễn Thị T1 và anh Nguyễn Văn M vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬTHẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Thị LýHoàng Đức CảnhLương Ngọc Dũng

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Thủy Nguyên;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủy Nguyên;
  • - Đương sự;
  • - UBND xã Quang Trung, TP. Thủy Nguyên;
  • (Giấy chứng nhận kết hôn số 69 ngày 16/11/2007);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2025/HNGĐ-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 96/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger