|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2025/HS-ST Ngày 19-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Thu Thủy;
- Ông Tô Văn Nhung.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Linh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vương, Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 58/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 84/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Lê Viết D, sinh năm 1981 tại thành phố T; thường trú: Số B, đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Số C, đường N, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: mua bán xe đạp điện; trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: nam; con ông Lê Viết Đ, sinh năm 1960 và bà Dương Thị S, sinh năm 1962; bị cáo có 03 anh, em, lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1984; bị cáo có vợ tên Trần Thị C (đã chết); bị cáo có 03 con ruột, lớn nhất sinh năm 2005, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Ông Đỗ Văn X, sinh năm 1959 (đã chết).
Người đại diện hợp pháp của bị hại:
- + Bà Trịnh Thị P, sinh năm 1961 (vợ bị hại); thường trú: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là người đại diện theo pháp luật. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- + Anh Đỗ Văn D1, sinh năm 1983; thường trú: Tổ C, Khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- + Bà Phạm Thị C1, sinh năm 1930; thường trú: xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; chỗ ở: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- + Chị Đỗ Thị G, sinh năm 1986; thường trú: Tổ C, Khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- + Anh Đỗ Văn D2, sinh năm 1988; thường trú: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- + Anh Lê Viết S1, sinh năm 1985; thường trú: Số B, đường Đ, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở hiện tại: Số F, đường N, khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Lê Viết D là chủ cửa hàng kinh doanh xe đạp điện Á, địa chỉ: đường N, khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Bị cáo D được cấp giấy phép lái xe ô tô hạng B2, số giấy phép: 790136796374 do Sở giao thông vận tải Thành phố H cấp ngày 09/9/2016, có giá trị đến ngày 09/09/2026.
Khoảng 15 giờ 00 phút, ngày 29/7/2024, Lê Viết D đến nhà em ruột là Lê Viết S1, sinh năm 1985, thường trú: Số F, đường N, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương mượn xe ô tô bán tải, hiệu Ford Ranger, màu trắng, biển số 51D-687.38 để đi giao xe đạp điện cho khách hàng tại khu Công nghiệp V thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Đến 20 giờ 55 phút cùng ngày, Lê Viết D điều khiển xe ô tô bán tải, hiệu Ford Ranger, màu trắng, biển số 51D-687.38 quay về đỗ ở trước cửa hàng xe đạp điện Á. Lê Viết D đỗ xe ô tô ở phần đường bên phải của đường N theo hướng Chợ T về hướng Ngã tư C, trên làn đường dành cho xe mô tô lưu thông chiếm 1,96 m phần đường xe chạy nhưng không mở đèn tín hiệu cảnh báo, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm trước và sau xe để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết và không đóng nắp bửng thùng xe bán tải.
Đến 21 giờ 05 phút cùng ngày, ông Đỗ Văn X, sinh năm 1959, thường trú: Số B, Khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai điều khiển xe mô tô, hiệu Fusin, màu cam trắng, biển số 61D1-050.37 lưu thông trên đường N theo chiều đi từ hướng Chợ T về Ngã tư C, do thiếu chú ý quan sát nên đã xảy ra va chạm vào phía góc bửng sau bên trái thùng xe và góc bên trái đuôi xe ô tô bán tải của Lê Viết D đang đỗ trên đường.
Sau tai nạn, thấy ông Đỗ Văn X bị thương, Lê Viết D đã cùng con ông X là anh Đỗ Văn D1, sinh năm 1983, thường trú: Tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai dùng xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38 chở ông Đỗ Văn X đến Trung tâm y tế thành phố D cấp cứu. Sau khi đưa nạn nhân đi cấp cứu, Lê Viết D điều khiển xe ô tô đến Cửa hàng Việt Thành P, địa chỉ: Số F, đường N, khu phố T, phường T, Thành phố D, tỉnh Bình Dương của em trai Lê Viết S1 cất giữ. Sau đó, Lê Viết D tiếp tục mang xe mô tô, biển số 61D1-050.37 của nạn nhân Đỗ Văn X cất giữ tại Cửa hàng mua bán xe đạp điện Á C2 rồi về nhà mình uống rượu và đi ngủ.
Đối với ông Đỗ Văn X được Trung tâm y tế D chuyển viện đến cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B nhưng đã tử vong trên đường đi cấp cứu. Khoảng 02 giờ 15 phút, ngày 30/7/2024 Trung tâm y tế D đã thông báo cho công an phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Sau khi tiếp nhận thông tin, công an phường T đã phối hợp cùng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương khám nghiệm hiện trường và tiến hành các biện pháp điều tra theo quy định.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 30/7/2024 thể hiện: hiện trường xảy ra tại đoạn đường thẳng, gần ngã ba vào khu dân cư S thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Đường thảm nhựa cứng, bằng phẳng, không có chướng ngại vật che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông. Đường có vạch sơn vàng phân biệt hai phần đường xe chạy, các phương tiện được lưu thông hai chiều theo hướng di từ Ngã ba Chợ T về hướng Ngã tư C và ngược lại. Mỗi phần đường có 02 làn đường xe chạy gồm 01 (một) làn đường xe ô tô, 01 (một) làn đường xe mô tô được phân biệt bằng vạch sơn trắng nét đứt.
- Hiện trường tai nạn xảy ra ở phần đường bên phải của đường N (gần Ngã ba vào khu dân cư S) có chiều đi từ hướng Ngã ba Chợ T về hướng đi Ngã tư C. Phần đường có làn xe mô tô rộng 2,30 m, làn xe ô tô rộng 3,70 m. Đường không có biển báo hiệu giao thông cấm dừng, đỗ, có đèn công cộng chiếu sáng.
* Ghi nhận việc đánh số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Vị trí xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38 (ký hiệu 1) đỗ trên làn đường xe mô tô của phần đường bên phải đường N, có chiều đi từ hướng Ngã ba Chợ T về Ngã tư C. Đầu xe hướng thẳng về hướng Ngã tư hướng đi Chợ T. Xe đã tắt máy, không mở đèn tín hiệu, nắp thùng sau (bửng sau) được mở ra; không có biển báo hiệu cảnh báo nguy hiểm đặt trước và sau xe để cảnh báo cho người và phương tiện khác biết. Trục bánh xe trước bên phải cách vào mép lề chuẩn là 0,10 m; trục bánh xe sau bên phải cách vào mép lề chuẩn là 0,10 m, cách vị trí trụ tường Công ty Trách nhiệm hữu hạn X1 là 7,10 m. Chiều ngang xe ô tô bán tải khi đỗ trên đường chiếm diện tích trên làn đường xe mô tô là 1.96 m.
- Vị trí xe mô tô, biển số 61D1-050.37 (ký hiệu 2) bị ngã đổ sang trái trên làn đường xe mô tô của phần đường bên phải đường N, có chiều đi từ hướng Ngã ba Chợ T về hướng Ngã tư C. Đầu xe hướng xéo vào trục bánh xe sau bên trái xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38, đuôi xe hướng xéo vào vị trí góc Ngã ba đường N và đường vào Khu dân cư S (5). Trục bánh xe trước cách vào mép lề chuẩn là 2,10 m, cách vị trí trục bánh sau bên trái xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38 là 2,10 m; trục bánh xe sau cách vào mép lề chuẩn là 1,30 m, cách vị trí điểm mốc (5) là 7.50 m.
- Dấu vết nhớt của xe mô tô, biển số 61D1 - 050.37 (ký hiệu 3) trên làn đường xe mô tô của phần đường bên phải đường N, có chiều đi từ hướng Ngã ba Chợ T về hướng Ngã tư C, cách mép lề chuẩn là 1,80 m.
- Vị trí nạn nhân (ký hiệu 4) ngã trên đường trên làn đường xe mô tô thuộc phần đường bên phải đường N, có chiều đi từ hướng Ngã ba Chợ T về hướng Ngã tư C, ngay phía sau bên trái vị trí nắp bửng thùng sau xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38. Chân nạn nhân hướng về đường vào khu dân cư S, đầu hướng ra đường N. Vị trí nạn nhân cách vào mép lề chuẩn là 1,90 m, cách trục bánh trước xe mô tô, biển số 61D1-050.37 là 0,60 m.
* Tại Kết luận giám định tử thi số 3634 ngày 01/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Tử thi Đỗ Văn X có các kết quả chính qua giám định gồm: Nhiều vết xây sát da, bầm tụ máu bên ngoài; gãy xương ức, nhiều xương sườn; dập rách rải rác hai phổi; dập cuống tim, bao tim; vỡ gan, vỡ tụy; ổ bụng và khoang màng phổi chứa nhiều máu. Nguyên nhân chết do “Đa chấn thương”.
* Tại Kết luận giám định cơ học số 3927 ngày 27/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:
- + Dấu vết va chạm giữa xe mô tô hai bánh, biển số 61D1-050.37 và xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38 như sau: Các dấu vết trượt xước sơn màu vàng, bám dính chất màu vàng, vỡ ốp nhựa phần đầu xe, vè chắn bùn bánh trước, đèn chiều sáng, cong biến dạng kim loại gác ba gác gắn ở đầu xe, cong sườn xe mô tô có chiều từ trước về sau phù hợp với các dấu vết trượt xước sơn màu trắng, bám chất màu vàng, rách kim loại ở cạnh sau và mặt dưới góc sau bên trái nắp thùng sau xe (khi nắp thùng mở ngã về sau), vỡ ốp nhựa ở đầu trái ốp cản sau xe ô tô bán tải, các dấu vết này có chiều từ sau về trước.
- + Cơ chế hình thành dấu vết va chạm xe mô tô hai bánh, biển số 61D1-050.37 và xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38: mặt trước phần đầu xe mô tô va chạm vào cạnh sau bên trái nắp thùng xe (khi nắp thùng mở ngã về sau) theo hướng từ sau về trước (như mục I, phần V) tạo ra các dấu vết trên hai xe.
- + Dấu vết va chạm trên mặt đường giữa xe mô tô hai bánh, biển số 61D1-050.37 và xe ô tô bán tải, biển số 51D-687.38 nằm tại khu vực dấu vết nhớt chảy loang trên mặt đường (như mô tả trong Biên bản khám nghiệm hiện trường, ký hiệu số 1) thuộc làn đường sát mép lề chuẩn như trên sơ đồ hiện trường.
- * Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và chất ma tuý trong máu của Trung tâm y tế D tại phiếu kết quả xét nghiệm 2400101096 ngày 30/7/2024 đối với tài xế Lê Viết D thể hiện trong máu có chứa cồn, nồng độ 33.81 mmol/l (tương đương 155.79 mg/100 ml máu, âm tính các chất ma tuý.
- * Kết luận giám định số 4064/KL-KTHS (HPL) ngày 06/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu máu thu giữ từ tử thi Đỗ Văn X có chứa thành phần Ethanol (cồn), nồng độ 194,91 miligam/100 mililit máu.
- * Kết luận định giá tài sản số 229 ngày 05/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong Tố tụng Hình sự thành phố D, kết luận:
- + Giá trị thiệt hại xe ô tô bản tải, hiệu Ford Ranger, màu trắng mang biển số 51D- 687.38 là 20.701.000 (hai mươi triệu bảy trăm lẻ một nghìn) đồng.
- + Giá trị thiệt hại xe mô tô hiệu Fusin màu cam trắng mang biển số 61D1-050.37 là 2.785.000 (hai triệu bảy trăm tám mươi lăm nghìn) đồng.
- Vật chứng thu giữ:
- + 01 (một) xe ô tô tải, biển số 51D-687.38;
- + 01 (một) xe mô tô, biển số 61D1-050.37.
- Xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 (một) xe ô tô tải, biển số 51D-687.38 thuộc quyền quản lý, sử dụng và sở hữu của ông Lê Viết S1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại xe ô tô cho anh Lê Viết S1.
- + Đối với xe mô tô, biển số 61D1-050.37 do ông Trần Văn Q, sinh năm 1966, thường trú: Số C, khu phố N, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu. Năm 2020, ông Q bán lại xe mô tô cho ông Đỗ Văn X quản lý, sử dụng cho đến nay, có đầy đủ giấy tờ, nguồn gốc và không có tranh chấp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại xe mô tô cho anh Đỗ Văn D1 (con ruột của nạn nhân Đỗ Văn X).
Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 19 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Viết D về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lê Viết D từ 01 năm 03 tháng tù đến 01 năm 06 tháng tù.
Quá trình tố tụng, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về các Kết luận giám định trên.
Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị cáo Lê Viết D bồi thường cho cho gia đình nạn nhân Đỗ Văn X chi phí mai táng 40.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại xe mô tô 2.000.000 (hai triệu) đồng. Tổng số tiền bồi thường là 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng. Anh Đỗ Văn D1, bà Phạm Thị C1, chị Trịnh Thị P, chị Đỗ Thị G và anh Đỗ Văn D2 (là người đại diện hợp pháp của nạn nhân Đỗ Văn X) đồng ý nhận số tiền trên và không yêu cầu gì thêm. Đồng thời, có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo Lê Viết D.
- - Lê Viết D đã bồi thường sửa chữa xe ô tô tải, biển số 51D-687.38 cho anh Lê Viết S1, số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng. Anh S1 đồng ý nhận và không yêu cầu gì thêm.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Viết D không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, trong phần nói lời sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về nội dung: Khoảng 20 giờ 55 phút, ngày 29/7/2024, bị cáo Lê Viết D đỗ xe trên đường N trước Cửa hàng xe đạp điện Á, thuộc khu phố Đ, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhưng không mở đèn tín hiệu cảnh báo, không đóng bửng thùng xe ô tô bán tải, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm cho người và phương tiện khác biết. Đến 21 giờ 05 phút, cùng ngày, ông Đỗ Văn X điều khiển xe mô tô, hiệu Fusin, màu cam trắng, biển số 61D1- 050.37 lưu thông trên đường N theo hướng từ Chợ T về Ngã tư C. Khi ông X điều khiển xe mô tô đến trước Cửa hàng Á đã để xe mô tô va chạm vào cạnh sau bên trái nắp thùng xe ô tô, biển số 51D-687.38 (khi nắp thùng xe mở ngả về sau) dẫn đến tai nạn giao thông, làm ông Đỗ Văn X tử vong trên đường đi cấp cứu. Hành vi của Lê Viết D vi phạm điểm d, khoản 3 Điều 18 Luật giao thông đường bộ năm 2008 (nay là điểm a khoản 3 Điều 18 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024) đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 19 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đề nghị đối với bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện tuy là lỗi vô ý nhưng nghiêm trọng đã xâm phạm an toàn công cộng, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của các phương tiện giao thông đường bộ, gây nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của người tham gia giao thông. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.
[4] Sau khi xẩy ra tai nạn, hiện trường không được giữ nguyên. Nguyên nhân do bị cáo dùng phương tiện ô tô chở anh Đỗ Văn D1 và bị hại cấp cứu, xe mô tô của bị hại bị cáo đưa về cửa hàng. Bản thân bị cáo D nhận thức bị hại không bị thương tích nghiêm trọng: Bị cáo D trình bày sau tai nạn, nạn thân không bị chảy máu, vẫn tỉnh táo và được bị cáo cùng người dân đưa vào trong lề đường; lời trình bày này cũng phù hợp với lời khai của anh Đỗ Văn D1 (con ruột của bị hại X): “Sau tai nạn tôi thấy cha tôi có nhiều vết bầm ở vùng ngực và bụng” và phù hợp với bản ảnh hiện trường vụ tai nạn (không có vết máu nạn nhân). Do nạn nhân không bị chảy máu bên ngoài, bị hại lại trong trạng thái say rượu nên bị cáo chủ quan nghĩ bị hại không bị nguy hiểm. Điều này chứng tỏ bị cáo không cố tình bỏ trốn và làm thay đổi hiện trường vụ tai nạn.
[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[7] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo là lao động chính, vợ bị cáo đã chết, bị cáo một mình nuôi 03 con nhỏ.
[8] Trách nhiệm dân sự:
- - Bị cáo Lê Viết D bồi thường cho cho gia đình bị hại Đỗ Văn X chi phí mai táng 40.000.000 đồng; bồi thường thiệt hại xe mô tô 2.000.000 đồng, tổng số tiền bồi thường là 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng. Anh Đỗ Văn D1, bà Phạm Thị C1, chị Trịnh Thị P, chị Đỗ Thị G, anh Đỗ Văn D2 (là người đại diện hợp pháp của nạn nhân Đỗ Văn X) đồng ý nhận số tiền trên và không yêu cầu gì thêm. Đồng thời, có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Lê Viết D.
- - Bị cáo Lê Viết D đã bồi thường sửa chữa xe ô tô tải, biển số 51D-687.38 cho anh Lê Viết S1, số tiền 22.000.000 (hai mươi hai triệu) đồng. Anh S1 đồng ý nhận và không yêu cầu gì thêm.
[9] Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 (một) xe ô tô tải, biển số 51D-687.38 do anh Lê Viết S1 đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại xe ô tô cho anh Lê Viết S1 là phù hợp với quy định của pháp luật.
- - Đối với xe mô tô, biển số 61D1-050.37 do ông Trần Văn Q đứng tên chủ sở hữu nhưng năm 2020 ông Q bán lại xe mô tô cho ông Đỗ Văn X quản lý, sử dụng cho đến nay, có đầy đủ giấy tờ, nguồn gốc và không có tranh chấp. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D trả lại xe mô tô cho là anh Đỗ Văn D1 (con ruột của nạn nhân Đỗ Văn X) là phù hợp với quy định của pháp luật.
[10] Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng nhưng là lỗi vô ý. Bị hại có sử dụng chất kích thích khi tham gia giao thông, mẫu máu thu giữ từ tử thi bị hại có chứa thành phần Ethanol (cồn), nồng độ 194,91 miligam/100 mililit máu; thời điểm xảy ra tai nạn có đèn đường chiếu sáng, không bị khuất tầm nhìn, bị hại thiếu quan sát nên cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Mặt khác, kể từ khi được áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương; vợ bị cáo đã mất từ năm 2019, một mình bị cáo là lao động chính nuôi 03 con. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không ảnh hưởng đến việc phòng chống tội phạm tại địa phương.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.
[11] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D đề nghị áp dụng mức hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân đối với bị cáo là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận. Như đã phân tích ở mục [9], không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ sức răn đe bị cáo, vì vậy cần thiết áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo đối với bị cáo là phù hợp.
[12] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Lê Viết D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm a, khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Xử phạt bị cáo Lê Viết D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo về cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người đang chấp hành thời gian thử thách thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Người được hưởng án treo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 35/2025/HSST - LCĐKNCC ngày 09/02/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo D.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lê Viết D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thắm |
Bản án số 96/2025/HS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 96/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Viết D phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo quy định tại khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự
