TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA Bản án số: 96/2025/HSST Ngày: 19/02/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân : Ông Trịnh Xuân Tính
Ông Nguyễn Hồng Vân
- Thư ký phiên toà : Ông Nguyễn Tuấn Thành - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá tham gia phiên tòa : Ông Trịnh Công Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2025/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Đào Thị T, sinh ngày 20 tháng 9 năm 1969. Tại tỉnh Thanh Hoá;
Nơi thường trú: Lô L, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;
Nơi ở hiện nay: phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Số thẻ CCCD : [...] ; giới tính : Nữ ; trình độ văn hóa: 0/12 ; nghề nghiệp: Lao động tự do ; con ông Đào Văn M (đã chết) và bà Đoàn Thị N (đã chết); chồng Trần Xuân Đ (đã chết), có 04 con: con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/9/2024 đến ngày 04/10/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN :
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau :
Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, tổ công tác Công an thành phố T đang làm nhiệm vụ tại khu vực trước số nhà F, đường D, phường Đ, thành phố T phát hiện Đào Thị T có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Tại chỗ, tổ công tác phát hiện trong túi quần bên phải T đang mặc có 01 túi nilon màu đen bên trong là túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma tuý. T khai nhận chất bột này là ma tuý loại Hêroine, T cất giấu trên người để khi có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đào Thị T, niêm phong gói ma tuý vào phong bì do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T phát hành, thu giữ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Magic màu xanh gắn số sim 0932358499 của Đào Thị T.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T Đào Thị T khai nhận: Khoảng 17 giờ ngày 28/9/2024 T đang dùng điện thoại nhã hiệu Magic gắn số sim 0932358499 gọi cho Đào Thị T1, sinh năm 1966 ở mặt bằng H, phường N, thành phố T hỏi mua 01 gói ma tuý loại Hêroine với số tiền 1.900.000 đồng T1 đồng ý bán ma tuý cho T (T và T1 là hai chị em ruột). Sau khi mua được ma tuý, T cất giấu gói ma tuý vào túi quần bên phải đang mặc. Đến 17 giờ 30 phút ngày 28/9/2024, khi T đang đứng trước số nhà F, đường D, phường Đ, thành phố T thì bị tổ công tác Công an thành phố T phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Khám xét nơi ở của Đào Thị T ở phố T, phường Q, thành phố T và nơi ở của Đào Thị T1 ở mặt bằng H, phường N, thành phố T. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T không thu giữ được gì.
Tại bản kết luận giám định số 3654/KL-KTHS ngày 03/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
Chất bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma tuý có khối lượng 0,768 gam loại Hêroine.
Đối với toàn bộ số ma tuý trong phong bì do Phòng K Công an tỉnh T phát hành còn lại sau giám định và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Magic màu xanh gắn số sim 0932358499 là vật chứng của vụ án phải chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 39/Ctr-VKSTPTH ngày 17/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đào Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo thành khẩn khai báo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
- - Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thị T từ 36 đến 42 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung : Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì ma tuý niêm phong của phòng K - Công an tỉnh T, có hình dấu của phòng K kèm chữ ký chữ viết của Nguyễn Trần Đ1, Trịnh Thị Thu H.
Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước: 01 Điện thoại di động itel Magic màu xanh, dạng máy bàn phím, số Imel : 356524291251501, điện thoại gắn kèm sim. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Căn cứ lời khai của Đào Thị T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã triệu tập Đào Thị T1 để làm việc. Đào Thị T1 không thừa nhận việc bán ma tuý cho Đào Thị T. Do lời khai của T và T1 mâu thuẫn nhau nên ngày 12/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thực hiện việc đối chất giữa T và T1. Tuy nhiên T1 vẫn giữ nguyên lời khai của mình phủ nhận lời khai của T. Thư khảng định không bán ma tuý cho T, lời khai của T về T1 là hoàn toàn không đúng sự thật. Xét thấy ngoài lời khai của T thì không còn tài liệu nào khác chứng minh việc T1 đã bán ma tuý cho T, nên không có cơ sở để xử lý hình sự đối với Đào Thị T1.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, Quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố T, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hoá, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Đào Thị T đã khai nhận: Vào hồi 17 giờ 30 phút ngày 28/9/2024 tại trước số nhà F, đường D, phường Đ, thành phố T, Đào Thị T đã có hành vi cất giấu trên người 0,768 gam Hêroine nhằm mục đích bán kiếm lời thì bị tổ công tác Công an thành phố T bắt quả tang và lập biên bản.
[3] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Phù hợp với kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa. Do đó cáo trạng và lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để khẳng định: Hành vi của Đào Thị T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 BLHS.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy của Đào Thị T là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm, hành vi của bị cáo là nghiêm trọng không những đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, là nguyên nhân tệ nạn nghiện ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, lây truyền bệnh Do đó cần được đưa ra xử lý nghiêm minh theo pháp luật hình sự. Vì vậy cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục cải tạo và phòng ngừa chung.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo :
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội cùa mình. Vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì ma tuý niêm phong của phòng K - Công an tỉnh T, có hình dấu của phòng K kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ1, Trịnh Thị Thu H.
Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước: 01 Điện thoại di động itel Magic màu xanh, dạng máy bàn phím, số Imel: 356524291251501, điện thoại gắn kèm sim. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Đối với Đào Thị T1, T1 không thừa nhận việc bán ma tuý cho Đào Thị T. Do lời khai của T và T1 mâu thuẫn nhau nên ngày 12/12/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã thực hiện việc đối chất giữa T và T1. Tuy nhiên T1 vẫn giữ nguyên lời khai của mình phủ nhận lời khai của T. Thư khảng định không bán ma tuý cho T, lời khai của T về T1 là hoàn toàn không đúng sự thật. Xét thấy ngoài lời khai của T thì không còn tài liệu nào khác chứng minh việc T1 đã bán ma tuý cho T nên không có cơ sở để xử lý hình sự đối với Đào Thị T1.
[8] Về án phí : Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
Căn cứ: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS. Khoản 2 Điều 135 BLTTHS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản I mục 1 Danh mục án phí, lệ phí (ban hành kèm theo nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016) của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên bố: Bị cáo Đào Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đào Thị T 36 (ba mươi sáu ) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù tính từ ngày tạm giữ 28/9/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy: 01 Phong bì ma tuý niêm phong của phòng K - công an tỉnh T, có hình dấu của phòng K kèm chữ ký, chữ viết của Nguyễn Trần Đ1, Trịnh Thị Thu H.
Tịch thu phát mãi sung công quỹ nhà nước: 01 Điện thoại di động itel Magic màu xanh, dạng máy bàn phím, số Imel : 356524291251501, điện thoại gắn kèm sim. Điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại cơ quan Thi hành án Dân sự thành phố T, tỉnh Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/01/2025 giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
Về án phí: Buộc Đào Thị T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm,
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trịnh Thị Hà |
Bản án số 96/2025/HSST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy (tội phạm hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 96/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Tội phạm Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
