Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-PT

Ngày 29 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hà.

Các Thẩm phán: Ông Vũ Duy Luân và ông Phạm Ngọc Thành.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Mạnh Tính - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 148/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Ngọc D do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HSST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

  1. Bị cáo kháng cáo: Phạm Ngọc D, sinh năm 2000 tại Phú Thọ; nơi cư trú: Khu T, xã Y, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ và bà Đặng Thị M; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/4/2024. Có mặt.
  2. Bị hại: Chị Nguyễn Việt N, sinh năm 1992; nơi cư trú: Số nhà B, đường N, tổ B, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để đánh bạc và chi tiêu cá nhân nên D đã lên mạng xã hội để tìm hiểu và thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức nhận bảo lưu vé máy bay và bán vé máy bay như sau:

Ngày 17/3/2024, chị Nguyễn Việt N mua 01 cặp vé máy bay của hãng hàng không V1, bao gồm vé đi và vé về chặng Hà Nội - O Nhật Bản, với số tiền là 15.975.000 đồng, ngày đi 02/4/2024, ngày về 06/4/2024. Ngày 29/3/2024, do chị N có việc cá nhân và muốn đổi thời gian bay sang ngày khác nên chị N sử dụng tài khoản Facebook “gingin” của chị N đăng bài lên một số hội, nhóm Facebook về du lịch tại Nhật Bản để hỏi việc có nên đổi ngày của vé máy bay hay không. Quá trình D tham gia vào các hội nhóm về du lịch tại Nhật Bản, D thấy Facebook của chị N đăng tải bài viết thì D dùng tài khoản Facebook “Phòng Vé T” nhắn tin hỏi chị N đã đổi được ngày bay chưa để bị cáo D hỗ trợ, chị N đồng ý. D tiếp tục nhắn tin tư vấn cho chị N nếu đổi ngày vé máy bay thì chị N sẽ mất 1.600.000 đồng và phải chịu tiền vé chênh lệch, còn đăng ký bảo lưu vé chỉ mất 150.000 đồng tiền dịch vụ. Do tin tưởng D là đại lý bán vé máy bay nên chị N đã đồng ý để D hướng dẫn làm thủ tục bảo lưu. Sau đó D xin số điện thoại liên kết Zalo của chị N và dùng tài khoản Zalo “Tour pass mini” liên kết số điện thoại 0775.350.xxx của D kết bạn, nhắn tin với Z “V2” liên kết số điện thoại 0979.682.xxx của chị N để tư vấn, hướng dẫn các bước tiếp theo cho chị N. D truy cập vào Website của V, nhập thông tin gồm: Mã vé, họ tên do chị N cung cấp, tài khoản gmail của D để nhận 01 file PDF vé điện tử và xác nhận hành trình từ tài khoản email của V gửi về tài khoản gmail của D. D sử dụng phần mềm chỉnh sửa văn bản Online thêm dòng chữ “Bảo lưu định danh hành trình” vào File PDF sau đó gửi file đã chỉnh sửa đến tài khoản gmail vietnga.skt@gmail.com của chị N (lý do D biết tài khoản gmail của chị N là do trên file vé điện tử và xác nhận hành trình do V gửi cho D có thông tin về tài khoản gmail này) kèm theo tin nhắn văn bản thông báo số tiền 15.975.000 đồng đã được bảo lưu thành công, chị N có thể sử dụng số tiền này để mua vé máy bay bên Vietjet Air trong vòng 01 năm (lúc này D vẫn chưa bảo lưu được vé cho chị N). Sau đó D hướng dẫn chị N gọi lên tổng đài của Vietjet A làm thủ tục bảo lưu, đổi số điện thoại đăng ký mua vé từ số 0979682929 của chị N sang số điện thoại 0389.975.xxx của D, khi chị N đổi số điện thoại thì đồng nghĩa với việc chuyển quyền sở hữu khoản bảo lưu này sang cho D, D có thể bán khoản bảo lưu này cho các đại lý bán vé máy bay hoặc yêu cầu chị N chuộc lại. Khi chị N có nhu cầu đặt vé đi Nhật Bản gấp nên muốn sử dụng số tiền bảo lưu để đặt vé thì D trả lời là số tiền bảo lưu không sử dụng được ngay phải đợi mấy ngày sau mới sử dụng được với mục đích để chị N đặt vé máy bay mới của D, chị N đồng ý và nhờ D đặt 01 cặp vé khứ hồi chặng Hà Nội – Osaka đi ngày 10/4/2024, về ngày 15/4/2024. D lên W của V đặt vé trước bằng thông tin do chị N cung cấp có mã đặt chỗ (số vé) là 8GXUUW với số tiền là 9.255.000 đồng. Sau đó gửi file PDF thông báo đặt chỗ trước do V gửi về tài khoản gmail của D tới tài khoản gmail của chị N để chị N tin tưởng đây là thông báo của V. Chị N đã kiểm tra giá vé là đúng như thông báo và trao đổi với D thì D hướng dẫn chị N chuyển số tiền 9.255.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V3 số 1042857643 mang tên DIEP VAN CHUONG do D yêu cầu, đây là tài khoản ngân hàng của D lấy từ game “x-poker”. Sau khi chiếm đoạt được số tiền mà chị N mua vé máy bay và vé bảo lưu do chị N nhờ thì D đưa ra các lý do như nhà có việc, máy tính hỏng không xuất vé cho chị N mà yêu cầu chị N phải chuyển thêm 2.000.000 đồng thì D mới xuất vé nhưng chị N không đồng ý.

Ngày 03/4/2024, chị N gọi vào số điện thoại 0389.975.xxx để hỏi về khoản bảo lưu thì D trả lời là khoản bảo lưu này do D mua lại ở trên mạng, D không biết chị N là ai, sau đó D sử dụng tài khoản Zalo “Phòng Vé Định Danh” liên lạc với chị N yêu cầu chị N chuyển 80% của khoản bảo lưu sau khi trừ 1.600.000 đồng phí bảo lưu tương đương với số tiền 11.500.000 đồng thì D sẽ chuyển lại quyền sở hữu khoản bảo lưu lại cho chị N, ngoài ra D còn dùng tài khoản F nhắn tin cho chị N để tư vấn, tác động chị N mua lại khoản bảo lưu nhưng chị N không đồng ý. Sau đó, do cần tiền để đánh bạc thì D đã tìm hiểu và liên hệ với Z “Thuỷ Tiên Vmb” liên kết số điện thoại 0768.125.xxx của chị Nguyễn Thị Xuân Thủy T, sinh năm 1994, trú tại thôn V, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi sử dụng để bán vé khứ hồi mà chị N nhờ D bảo lưu với số tiền là 10.800.000 đồng.

Tổng số tiền mà D đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Việt N là 25.230.000 đồng (Trong đó: số tiền 9.255.000 đồng là tiền chị N nhờ D mua vé máy bay chặng bay Hà Nội - Nhật Bản và 15.975.000 đồng là tiền vé máy bay khứ hồi chặng Hà Nội - Osaka, mã đặt chỗ là NP2RX9, ngày đi 02/4/2024, ngày về 06/4/2024 mà chị N nhờ D bảo lưu).

Sau khi thực hiện hành vi nhận bảo lưu và bán vé máy bay cho chị N để chiếm đoạt tiền thì D đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, màu đen, IMEI: 359137271997469, IMEI2: 359137271713882 của D vào ứng dụng game "x-poker" (mà D đã cài đặt trên điện thoại trước đó) với tài khoản có tên đăng nhập: caothuaoedung, pass: Matkhaumoi2; ID game 1977647, nạp tiền và tham gia đánh bạc trên game này. Để nạp tiền và tham gia đánh bạc thì D tham gia một câu lạc bộ trên ứng dụng “x-poker”, mỗi một câu lạc bộ sẽ có 01 ID và 01 nhóm Facebook riêng, người chơi phải liên hệ với nhóm Facebook này để nạp tiền, sau khi nạp tiền xong thì chỉ được đánh bạc với những người cùng trong câu lạc bộ đã tham gia. Do trước đó D xem được quảng cáo trên Facebook từ câu lạc bộ có tên là "Wiki Poker” nên D sử dụng tài khoản Facebook “Việt Anh Al” vào nhóm Facebook "Wiki Poker”, tham gia câu lạc bộ “Wiki Poker” trên game “x-poker” thông qua ID và mã mời được đăng lên trang Facebook của câu lạc bộ, D nhắn tin cho trang Facebook “Wiki Poker” để xin số tài khoản ngân hàng nạp tiền và được hướng dẫn khi nạp tiền thì nội dung chuyển khoản phải có ID “1977647” của D, số tiền đã nạp sẽ được đổi thành chíp trong game được với tỷ lệ quy đổi 1000 VND = 01 chíp.

Có 2 hình thức đánh bạc trên game “x-poker” là đánh giải và đánh ăn tiền theo bàn chơi thông qua hình thức đánh bài poker.

Căn cứ tài liệu điều tra xác định số tiền mà D sử dụng để đánh bạc đủ yếu tố cấu thành tội phạm (mỗi một phiên đánh bạc sử dụng tổng số tiền từ 5.000.000 đồng trở lên) như sau:

  • - Ngày 29/3/2024: Phiên 4 tổng 69 ván với số tiền là 22.876.310 đồng.
  • - Ngày 30/3/2024: Phiên 2 tổng 31 ván với số tiền là 62.682.000 đồng.
  • - Ngày 31/3/2024: Phiên 1 tổng 77 ván với số tiền là 12.774.470 đồng; phiên 2 tổng 86 ván với số tiền là 7.222.770 đồng; phiên 3 tổng 44 ván với số tiền là 9.360.090 đồng.
  • - Ngày 01/4/2024: Phiên 5 tổng 114 ván với số tiền là 18.459.110 đồng.
  • - Ngày 02/4/2024: Phiên 2 tổng 44 ván với số tiền là 7.956.300 đồng; phiên 4 tổng 46 ván với số tiền là 10.193.880 đồng; phiên 5 tổng 157 ván với số tiền là 48.584.740 đồng.
  • - Ngày 03/4/2024: Phiên 3 tổng 64 ván với số tiền là 14.494.230 đồng; phiên 4 tổng 114 ván với số tiền là 32.977.540 đồng; phiên 11 tổng 78 ván với số tiền là 11.065.760 đồng; phiên 14 tổng 133 ván với số tiền là 33.964.680 đồng; phiên 15 tổng 27 ván với số tiền là 5.831.200 đồng; phiên 17 tổng 24 ván với số tiền là 5.455.610 đồng; phiên 20 tổng 24 ván với số tiền là 5.012.950 đồng; phiên 21 tổng 211 ván với số tiền là 70.500.000 đồng.
  • - Ngày 04/4/2024: Phiên 1 tổng 141 ván với số tiền là 28.051.000 đồng; phiên 5 tổng 93 ván với số tiền là 11.843.160 đồng.
  • - Ngày 05/4/2024: Phiên 5 tổng 85 ván với số tiền là 10.143.680 đồng.

Tổng số tiền D đánh bạc qua các ván là 429.449.480 đồng (Bốn trăm hai mươi chín triệu bốn trăm bốn mươi chín nghìn bốn trăm tám mươi đồng).

Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình quyết định:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc".
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
    2. Áp dụng các điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Phạm Ngọc D 04 (bốn) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung bị cáo 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
    3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Phạm Ngọc D phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 06 (sáu) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12/4/2024. Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung cho cả hai tội là 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo.

Ngày 04 tháng 9 năm 2024, bị cáo Phạm Ngọc D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Phạm Ngọc D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm hình phạt vì sau khi phạm tội bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt, bị hại xin giảm hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc D, sửa bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, giảm hình phạt cho bị cáo. Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” xử phạt bị cáo 01 năm tù và đối với tội “Đánh bạc” xử phạt bị cáo từ 03 năm đến 03 năm 03 tháng tù. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt cho cả hai tội từ 04 năm đến 04 năm 03 tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc D gửi đến Tòa án trong thời hạn luật định là hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự xét xử phúc thẩm.
  2. Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra đã thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định: Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên ngày 30/3/2024, Phạm Ngọc D sử dụng tài khoản Facebook có tên là “Phòng Vé Thảo Tây” và Z có tên là “Tour Pass M1” đưa ra thông tin sai sự thật về việc bán vé máy bay và nhận bảo lưu vé máy bay của hãng hàng không V1 để lừa đảo chiếm đoạt của chị Nguyễn Việt N số tiền 25.230.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt tiền của chị N thì bị cáo D đã sử dụng số tiền này chi tiêu cá nhân và tham gia đánh bạc trên mạng bằng hình thức chơi game “x-poker” từ ngày 29/3/2024 đến ngày 05/4/2024. Tổng số tiền D sử dụng để mua Chip đánh bạc là 55.075.000 đồng. Tổng số tiền xác định bị cáo D đánh bạc qua các ván đủ yếu tố cấu thành tội phạm là 429.449.480 đồng. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
  3. Xét kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc D thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây tâm lý lo lắng cho người dân nơi xảy ra vụ án. Bản thân bị cáo tuổi đời còn rất trẻ, nhận thức tốt nhưng lười lao động, ham chơi, đua đòi, không tự bỏ sức lao động để kiếm sống nên đã sa vào con đường phạm tội, thực hiện nhiều hành vi phạm tội. Do vậy, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, cải tạo, giáo dục đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo là người có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tại phiên toà, bị cáo cung cấp thêm tài liệu về việc đã tự nguyện nộp một phần khoản tiền phạt bổ sung theo quyết định của bản án sơ thẩm. Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại do vậy có căn cứ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo. Đối với tội “Đánh bạc”, theo khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt từ 03 năm tù đến 07 năm tù đối với số tiền đánh bạc từ 50.000.000 đồng trở lên nhưng Toà án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 04 năm 09 tháng tù là quá nghiêm khắc. Vì vậy, cũng cần xem xét để giảm nhẹ hình phạt đối với tội “Đánh bạc” của bị cáo là phù hợp, có căn cứ.
  4. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Ngọc D, sửa Bản án sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 21 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, giảm hình phạt tù cho bị cáo.
  2. Về hình phạt:
    1. Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 174; Điều 35; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
    2. Áp dụng điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 321; Điều 35; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc D 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Phạt bổ sung bị cáo 12.000.000 đồng (mười hai triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
    3. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt: Buộc bị cáo Phạm Ngọc D phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 12/4/2024. Buộc bị cáo phải nộp phạt bổ sung cho cả hai tội là 22.000.000 đồng (hai mươi hai triệu đồng) nộp ngân sách nhà nước.
  3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án 29/11/2024.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND, CA TP. Thái Bình;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đỗ Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình về vụ án hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và đánh bạc

  • Số bản án: 96/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc D phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger