|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HS-ST
Ngày 12 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phạm Quốc Vượng
2. Bà Phạm Thị Thanh Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 79/2024/TLST-HS ngày 25/10/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS ngày 20/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản đối với các bị cáo:
1. Đoàn Văn T năm 1987 tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12.
Nơi đăng ký thường trú: Tổ E, ấp B, xã Đ, huyện H, tỉnh Bình Phước
Chỗ ở hiện nay: Tổ B, khu phố I, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước
Cha: Đoàn Văn P(đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị L năm 1960; Bị cáo có 03 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1982, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim C năm 1991, có 01 con là Đoàn Tấn M năm 2009.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 12/6/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 06 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”, theo Bản án số 62/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và chấp hành xong án phí. Ngày 31/8/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, theo Bản án số
88/2009/HSPT. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và chấp hành xong án phí. Ngày 25/4/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phướcxử phạt 07 tháng 14 ngày tù (bằng với thời hạn đã tạm giam) về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 32/2016/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và chấp hành xong án phí.
Ngày 11/3/2024 có hành vi dùng dao tự chế đâm Nguyễn Văn Đ thương tích 18% xảy ra tại tổ H, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước Ngày 13/5/2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
2. Giang Văn T1sinh năm 1986 tại: tỉnh Thái Bình.
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12.
Nơi thường trú: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Thái Bình
Chỗ ở hiện nay: Tổ C, khu phố C, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước
Cha: Giang Văn M1sinh năm 1960, Mẹ: Trần Thị V năm 1963; Bị cáo có 04 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1997; Bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 11/3/2024 có hành vi giúp sức cho Đoàn Văn T1 dao tự chế đâm Nguyễn Văn Đ thương tích 18% xảy ra tại tổ H, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước Ngày 26/8/2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
3. Điểu Dsinh năm 1996 tại: tỉnh Bình Phước.
Tên gọi khác: D; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: X'tiêng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12.
Nơi cư trú: Ấp S, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước
Cha: Điểu D1sinh năm 1974, Mẹ: Tsinh năm 1975; Bị cáo có 03 chị em ruột, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2007. Bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Bị cáo có vợ là Thị T2 M2sinh năm 1996, có 02 người con là Điểu Văn A năm 2018, Thị N D2sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 11/3/2024 có hành vi giúp sức cho Đoàn Văn T1 dao tự chế đâm Nguyễn Văn Đ thương tích 18% xảy ra tại tổ H, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước Ngày 26/8/2024 bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Nguyễn Văn Đ1 năm: 1989; Nơi cư trú: Tổ H, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước(Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Văn T3 nay đang hành nghề lái xe ô tô dịch vụ và Nguyễn Văn Đ2 bạn bè ngoài xã hội, trước đây cả hai người từng chấp hành án phạt tù tại Trại giam T38 năm 2023, Đoàn Văn T4 Nguyễn Văn Đ3 số tiền 40.000.000đ để kinh doanh, tuy nhiên do Đ4 trả tiền cho T5 thỏa thuận nên dẫn đến mâu thuẫn với nhau.
Khoảng 17 giờ ngày 11/3/2024, T6 điện thoại cho Đ5 đến nhà Đ16 tổ H, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phướcđể giải quyết khoản vay nợ thì Đđồng ý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T29 chuẩn bị đến nhà của Đ6 ngay lúc này Giang V2 T1gọi điện thoại thuê Tchở nhóm của T1đến quán "thuộc thị trấn T, huyện H của Tlăn, uống thì T7 ý. Sau đó T8 khiển xe ô tô, biển kiểm soát 93A-355.03, nhãn hiệu Xpander (lúc này trong cốp xe ô tô của T24 để sẵn 01 cái giáo tự chế bằng kim loại khoảng 01 mét và 01 cái dao rựa dài 67cm, có lưỡi sắc bằng kim loại, cán bằng gỗ) đến quán cà phê “Đường Mới” tại khu Công nghiệp C thuộc phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phướcđể chở nhóm của T1đi lên thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình PhướcKhi đến nơi thì Giang Văn T9 DĐiểu C1sinh năm 1991, nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện H(chưa rõ nhân thân) lên xe rồi Tđiều khiển xe chở nhóm của T1đến thị trấn T đến ngã tư chợ T39 có hẹn với Đtrước đó nên T10 chở khách đến quán “Ốc Nè” mà T11 vào chợ T40 đi về hướng nhà ĐThấy vậy, T1mới hỏi “tại sao không chở đến quán Ốc N1 đi đường này”, Ttrả lời “Tí em ghé kia có chút việc xong rồi em chở anh đi, có gì anh đứng ra nói chuyện cho em”, nghe vậy T1đồng ý và nói “Có gì anh đứng ra nói chuyện cho”; còn những người trên xe còn lại không có ai hỏi và nói gì.
Khi đến đối diện nhà của Đ6 Tdừng xe lại và gọi Đra nói chuyện, lúc này T1DC1L1cũng xuống xe, đứng cách đuôi xe ô tô khoảng 10 mét; do Đthấy T12 cùng nhiều người nên Đ7 01 con dao có lưỡi sắc, bằng kim loại, dài khoảng 35cm dắt vào sau quần rồi đi ra gặp T41 gặp nhau, T13 ở khu vực này đông người nên nói với Đ8 về phía trước khoảng 15 mét để nói chuyện, T14 mình lên xe ô tô điều khiển đi theo Đcòn T1DC1L1vẫn đứng khu vực phía sau xe ô tô. Sau khi xuống xe thì Đvà Ttiếp tục tranh cãi về khoản vay nợ, sau đó Đ9 thức đánh nhau với T15 vậy Tdùng tay phải đấm vào vùng mặt Đ01 cái, Đ10 lấy 01 cái dao đã thủ sẵn trước đó ra đuổi đâm T26 không trúng, thấy vậy T16 chạy thì bị vấp ngã nên bị Đdùng tay, chân đấm, đá nhiều cái vào người Tngay lúc này T6 T1mở cốp xe ô tô thì Tlchạy đến mở cốp xe và T1cầm 01 cái dao rựa, có chiều dài 67cm, cán dao bằng gỗ hình
trụ tròn dài 42cm, đường kính cán dao 03cm, có sẵn trên xe chạy ra đứng đối diện với Đ11 dao lên cao dọa Đ12 không chém ĐĐồng thời lúc này Đ13 Dcũng cầm 01 cái mũ bảo hiểm đang đội trên đầu ném về phía Đnhưng không trúng. Khi Đ14 lại thì T17 chạy đến vị trí cốp xe ô tô lấy 01 cái giáo tự chế bằng kim loại, cán dài 78cm, đường kính cán 2,6 cm, mũi giáo nhọn, bằng kim loại dài 36cm chạy về phía ĐKhi này cả Tvà Đđều cầm hung khí trên tay, đứng đối diện cách nhau khoảng 1,5 mét, Tcầm giáo tự chế đâm về phía Đkhoảng 03-04 cái, trong đó có 01 cái trúng vào phần ngực phải đường nách sau của Đgây thương tích, Đ15 dùng dao, đâm chém về phía Tnhiều cái nhưng không trúng. Sau đó T18 với nhóm của T1lên xe bỏ chạy, còn Đđược gia đình đưa đi cấp cứu.
Quá trình điều tra thì Đoàn Văn TGiang Văn T1Điểu D1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 156/KLTTCT-TTPY ngày 17/4/2024 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh B:
- Vết thương thấu ngực phải tràn khí, tràn máu màng phổi phải đã phẫu thuật dẫn lưu màng phổi phải, hiện di chứng dày dính kèm tràn dịch màng phổi phải lượng ít. (H3)
- Sẹo ngực phải đường nách sau kích thước (3 x 0,2)cm. (H1)
- Sẹo ống dẫn lưu ngực phải đường nách trước kích thước (1,7 x 1,5)cm (H2)
Căn cứ Thông tư số 22/2019TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ16 thời điểm giám định là: 18%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.
Vật chứng thu giữ của vụ án:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát: 93A-355.03, nhãn hiệu Mitsubishi, loại Xpander MT, màu trắng, số khung: RLA0LNN1000062, số máy: 4A91KAR3755.
- 01 cái giáo tự chế có cán bằng kim loại màu xanh bạc, cán dài 78cm, đường kính cán 2,6cm; mũi giáo nhọn bằng kim loại, dài 36cm.
- 01 cái dao rựa, có tổng chiều dài 67 cm; cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 42cm, đường kính cán dao 03cm; lưỡi dao bằng kim loại, màu nâu - đen, mũi dao bằng, rộng 06 cm; sống dao tù; đã qua sử dụng.
- 01 cái dao có lưỡi bằng kim loại dài 23cm, màu đen – bạc, nhọn, chiều rộng lớn nhất là 07cm; cán dao bằng gỗ dài 11cm, đường kính cán dao 03cm.
Xử lý vật chứng:
Đối với xe ô tô, biển kiểm soát 93A-355.03: Quá trình điều tra xác định, đây là xe ô tô của anh Trần Quốc T19 năm 1991, nơi cư trú: Tổ F, khu phố B, thị trấn
T, huyện H, tỉnh Bình Phướcanh T2cho Đoàn Văn T20 xe để chạy dịch vụ tự lái. Quá trình giao xe thì anh T2giao toàn quyền sử dụng cho Đoàn Văn T21 vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện H trả lại xe ô tô trên cho anh T2theo quy định của pháp luật nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
- Đối với 01 cái giáo tự chế có cán bằng kim loại màu xanh bạc, cán dài 78cm, đường kính cán 2,6cm, mũi giáo nhọn bằng kim loại, dài 36cm; 01 cái dao rựa, có tổng chiều dài 67cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 42cm, đường kính cán dao 03cm, lưỡi dao bằng kim loại, màu nâu - đen, mũi dao bằng, rộng 06cm, sống dao tù, đã qua sử dụng. Đây là công cụ do Đoàn Văn T22 Giang Văn T1sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.
- Đối với 01 cái dao có lưỡi bằng kim loại dài 23cm, màu đen – bạc, nhọn, chiều rộng lớn nhất là 07cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, đường kính cán dao 03cm. Quá trình điều tra xác định, đây là con dao do Nguyễn Văn Đ17 để đánh nhau với Đoàn Văn T23 cứ điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS, đề nghị TAND huyện Hớn Quản tuyên tịch thu, tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra, Đoàn Văn T24 tự nguyện bồi thường chi phí điều trị thương tích cho anh Nguyễn Văn Đ18 tiền 85.000.000 đồng, Giang V2 T1và Điểu Dmỗi người tự nguyện bồi thường cho anh Đ18 tiền 5.000.000 đồng và do anh Đ19 có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Viện kiểm sát không đề cập đến.
Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKS ngày 17 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Đoàn Văn TGiang V1 T1và Điểu Dkhai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn TGiang V1 T1và Điểu Dphạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt các bị cáo Đoàn Văn T25 mức hình phạt từ 34 tháng đến 36 tháng tù.
Xử phạt các bị cáo Giang V2 T1mức hình phạt từ 24 tháng đến 26 tháng tù.
Xử phạt các bị cáo Điểu D2 hình phạt từ 24 tháng đến 26 tháng tù.
Vật chứng và trách nhiệm dân sự: Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên như đề nghị trong nội dung bản cáo trạng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố bị hại đã có bản trình bày lời khai; lời khai của bị hại phù hợp với lời khai của các bị cáo, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; Bị hại và các bị cáo đã thống nhất được mức bồi thường về trách nhiệm dân sự và không yêu cầu gì đối với các bị cáo nên việc vắng mặt bị hại tại phiên tòa không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị hại.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau: Do mâu thuẫn với nhau trong việc Nguyễn Văn Đ20 vay tiền của Đoàn Văn T26 đến hẹn mà Đ21 chưa trả tiền cho T27 ngày 11/3/2024, Đoàn Văn T28 nhà của Đ16 tổ H, khu phố E, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phướcđể đòi nợ, sau đó hai người xảy ra cãi nhau nên Đoàn Văn T24 dùng dao tự chế (giáo tự chế) có cán bằng kim loại màu xanh bạc, cán dài 78cm, đường kính cán 2,6cm, mũi giáo nhọn bằng kim loại, dài 36cm đâm nhiều cái, trong đó có 01 cái trúng vào phần ngực phải đường nách sau của Nguyễn Văn Đ thương tích 18%.
Trong lúc Đoàn Văn T29 xảy ra xô xát với Nguyễn Văn Đthì Giang V2 T1đã tiếp nhận ý chí, đồng ý hỗ trợ Tmở cốp xe ô tô lấy con dao rựa rồi Đcầm dao giơ lên đe dọa Đđể cho T30 dao tự chế đâm Nguyễn Văn Đ thương tích. Đối với Điểu D3 không nói gì nhưng khi nhìn thấy T29 đánh nhau với Đ6 Dsử dụng mũ bảo hiểm của mình ném về phía Đđể đe dọa nhưng không trúng anh Đ22 dù hành vi của T1 Dkhông trực tiếp gây ra thương tích cho anh Đ12 đã giúp sức để T31 cơ hội và tiếp tục dùng dao đâm Nguyễn Văn Đ thương tích 18%.
Do vậy, hành vi trên của Đoàn Văn TGiang V1 T1Điểu Dđã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”.
[3] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Đoàn Văn TGiang V1 T1và Điểu Dlà phù hợp với lời khai của Bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với Bản kết luận giám định pháp y về thương tích của người bị hại và phù hợp với hiện trường của vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Do mâu thuẫn trong việc vay tiền giữa bị cáo Đoàn Văn T22 bị hại Nguyễn Văn Đ23 bị cáo Đoàn Văn T25 đã dùng dao tự chế đâm bị hại, gây thương tích cho bị hại Đ18%, các bị cáo Giang V2 T1và Điểu D tuy không trực tiếp đâm bị hại nhưng đã có hành vi giúp sức để T32 thương tích cho bị hại. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản truy tố các bị cáo Đoàn Văn TGiang V1 T1và Điểu Dvề tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Các bị cáo dùng dao tự chế là vật sắc nhọn là hung khí nguy hiểm để tấn công bị hại, có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, các bị cáo đều ý thức được việc này nhưng các bị cáo vẫn thực hiện, các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện sự xem thường pháp luật của các bị cáo, xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo các bị cáo thành người có ích và phòng ngừa chung.
Đây là vụ án đồng phạm mang tính chất giản đơn, các bị cáo không có cấu kết, phân công nhiệm vụ, không có sựu ban bàn trước. Tuy nhiên, cần phân tích vai trò của từng bị cáo để phân hóa tội phạm: Trong vụ án bị cáo T33 chủ mưu, chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội và đồng thời là người trực tiếp gây thương tích cho bị hại nên bị cáo T34 chịu trách nhiệm hình sự nghiêm khắc hơn; các bị cáo Tlvà Dlà đồng phạm thứ yếu giúp sức cho T32 thương tích cho bị hại mà không trực tiếp gây thương tích nên phải chịu trách nhiệm hình sự ít nghiêm khắc hơn nên Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi lượng hình.
[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:
Đối với bị cáo Đoàn Văn T25, có nhân thân rất xấu. Ngày 12/6/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 06 năm tù về tội “Hiếp dâm trẻ em”, theo Bản án số 62/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và chấp hành xong án phí. Ngày 31/8/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp tài sản”, theo Bản án số 88/2009/HSPT, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và chấp hành xong án phí. Ngày 25/4/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Chơn Thành (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phướcxử phạt 07 tháng 14 ngày tù (bằng với thời
hạn đã tạm giam) về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 32/2016/HSST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt chính và chấp hành xong án phí. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, sau khi gây thương tích cho bị hại bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Các bị cáo Giang V2 T1và bị cáo Điểu D4 hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái, sau khi gây thương tích cho bị hại bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả, được bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T1và Dkhông có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Đối với Điểu C1Trước khi xảy ra vụ án thì C1không bàn bạc, thỏa thuận bất kỳ vấn đề gì với Đoàn Văn T35 xảy ra sự việc thì C1chỉ đứng nhìn, không có bất kỳ hành động, lời nói nào đe dọa anh ĐDo đó quá trình điều tra xác định Đ13 C1không đồng phạm với Đoàn Văn T25
Đối với người tên L1L1là bạn mới quen biết của Giang V2 T1T1chỉ biết người này tên L1(hoặc N1nhưng không biết nhân thân cụ thể của người này. Tuy nhiên, quá trình điều tra thì TT1DC1đều xác định trước khi xảy ra vụ án thì L1không bàn bạc gì với TKhi xảy ra sự việc thì L1chỉ đứng nhìn, không có bất kỳ hành vi, lời nói nào đe dọa anh ĐDo đó xác định L1không có đồng phạm với Đoàn Văn T25
Đối với Nguyễn Văn ĐNgày 11/3/2024 có hành vi dùng dao đánh nhau với Đoàn Văn T25 nhưng không gây thương tích nên ngày 03/10/2024 Công an huyện H quyết định số: 87/QĐ-XPVPHC xử phạt hành chính đối với hành vi trên của Nguyễn Văn Đ24 mức phạt tiền 4.000.000 đồng.
[7] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật và mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Trách nhiệm dân sự:
Sau khi sự việc xảy ra các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận giải quyết xong. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không giải quyết.
[9] Vật chứng vụ án: Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên như đề nghị xử lý vật chứng trong nội dung của bản cáo trạng là phù hợp nên chấp nhận.
[10] Về án phí:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Đoàn Văn TGiang V1 T1và Điểu D(Dchuột) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt các bị cáo Đoàn Văn T36 phạt 02 (Hai) năm 10 (Mười) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Giang Văn T37 hình phạt 02 (H) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 58 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt các bị cáo Điểu D5 (tên gọi khác D) hình phạt 02 (H) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo để đi thi hành án.
3. Vật chứng vụ án:
Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 cái giáo tự chế có cán bằng kim loại màu xanh bạc, cán dài 78cm, đường kính cán 2,6cm, mũi giáo nhọn bằng kim loại, dài 36cm;
- 01 cái dao rựa, có tổng chiều dài 67cm, cán dao bằng gỗ hình trụ tròn dài 42cm, đường kính cán dao 03cm, lưỡi dao bằng kim loại, màu nâu - đen, mũi dao bằng, rộng 06cm, sống dao tù, đã qua sử dụng.
- 01 cái dao có lưỡi bằng kim loại dài 23cm, màu đen – bạc, nhọn, chiều rộng lớn nhất là 07cm, cán dao bằng gỗ dài 11cm, đường kính cán dao 03cm.
(Vật chứng được mô tả và chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0006024 ngày 29/10/2024 giữa Công an huyện Hvà Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hớn Quản).
4. Án phí:
Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q
Các bị cáo Đoàn Văn TGiang V1 T1và Điểu D(Dchuột) mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo:
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
