Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 12/12/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Vũ Thị Thuỳ Dương

2. Bà Lại Thị Thuý Hằng

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thái Học - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Huỳnh Tùng K, sinh năm: 1978, tại Đồng Nai; Tên gọi khác: Lâm Văn K1, Út T, Ú, D; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 02/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Nguyên Q, sinh năm: 1932 (đã chết) và bà Lư Thị T1, sinh năm: 1932 (đã chết); vợ là Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm: 1984 (chưa đăng ký kết hôn), chưa có con chung;

Nhân thân: Ngày 18/01/1996 bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”.

Tiền sự: không;

Tiền án: 08

  • + Ngày 21/3/2001, bị Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • + Ngày 24/01/2003, bị Toà án nhân dân huyện Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xử phạt 54 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Cưỡng đoạt tài sản”.
  • + Ngày 10/01/2007, bị Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 42 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • + Ngày 28/01/2010, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 12/6/2012, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • + Ngày 04/3/2016, bị Toà án nhân dân huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xử phạt 07 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  • + Ngày 06/12/2016, bị Toà án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • + Ngày 13/11/2020, bị Toà án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/02/2023 đến ngày 23/02/2023, đến ngày 21/08/2024 bị tạm giữ và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

- Bị hại: ông Lâm Hồng T2, sinh năm: 1954 và bà Nguyễn Thị Như H, sinh năm: 1954

Nơi cư trú: ấp C, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người làm chứng: ông Đỗ Tuấn K2, sinh năm: 1974.

Nơi cư trú: khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 04/02/2023, vợ chồng ông Lâm Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Như H, cùng trú tại: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai là anh ruột và chị dâu của Huỳnh Tùng K đi công việc, nên nhờ K trông coi nhà cửa. Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, K nảy sinh ý định lấy trộm tài sản của vợ chồng ông T2, bà H nên đi vào phòng ngủ của bà Hồng L tìm tài sản. K thấy 01 tủ nhựa có hai cánh, màu xanh trắng, bị khóa lại bằng sợi dây xích kim loại còn các hộc tủ còn lại không bị khóa nên K mở các hộc tủ không bị khóa để tìm tài sản thì phát hiện 02 chìa khóa trong ngăn tủ thứ hai từ trên xuống nên lấy chìa khóa mở khóa dây xích, K thấy bên trong có một chiếc túi xách nữ, màu hồng, K kiểm tra bên trong túi có một cọc tiền toàn tờ mệnh giá 200.000 đồng và một cọc tiền mệnh giá 100.000 đồng và 500.000 đồng, K đếm được 26.400.000 đồng rồi bỏ vào túi quần. Sau đó, K tiếp tục lục tìm thì phát hiện trong túi áo khoác dài tay, màu xanh có một số trang sức bằng kim loại, màu vàng gồm: 01 sợi dây chuyền, 03 nhẫn trong đó có 02 nhẫn có đính đá, 01 nhẫn trơn không có hoa văn và không đính đá, K lấy trộm 01 chiếc nhẫn trơn rồi cất những trang sức còn lại vào túi áo khoác cùng với túi xách vào tủ, khóa lại như cũ và rời đi.

Sau đó, K mang chiếc nhẫn trơn đến tiệm V tại khu phố P, thị trấn H, huyện N, tỉnh Đồng Nai của ông Đỗ Tuấn K2, bán được số tiền 10.600.000 đồng. Tổng số tiền K lấy trộm 37.000.000 đồng K tiêu xài cá nhân, còn lại số tiền 1.900.000 đồng. Đến ngày 14/02/2023, K đến Công an đầu thú, quá trình làm việc, K bỏ trốn, đến ngày 20/08/2024, K đến Công an xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai đầu thú.

Tại Bản kết luận giám định giá trị tài sản số 06/KL-HĐĐG ngày 21/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C xác định: 01 nhẫn vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ có trị giá 10.600.000 đồng.

Tại cáo trạng số 98/CT-VKS-CM ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Huỳnh Tùng K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Tùng K về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng như cáo trạng đã nêu, đồng thời đề nghị: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Tùng K từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.

  • - Về vật chứng vụ án: Đã xử lý xong trong quá trình điều tra nên không đặt ra xem xét.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Ông Lâm Hồng T2 và Nguyễn Thị Như H không có yêu cầu gì, nên không xem xét.
  • - Đối với ông Đỗ Tuấn K2 khi mua nhẫn vàng 24k không biết đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Tùng K khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội này phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Để có tiền tiêu xài nên vào khoảng 06 giờ, ngày 04/02/2023, tại nhà ông Lâm Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Như H, bị cáo K đã có hành vi trộm cắp tài sản tổng giá trị 37.000.000 đồng gồm số tiền mặt 26.400.000 đồng và 01 chiếc nhẫn vàng 24k có trị giá 10.600.000 đồng của vợ chồng ông T2 và bà H. Do đó, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là công dân đã trưởng thành, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của vợ chồng ông T2 và bà H. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương. Mặt khác, bị cáo có 08 tiền án về các tội xâm phạm sở hữu nhưng không tu dưỡng, rèn luyện đạo đức mà lại tiếp tục tái phạm đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần cách ly bị cáo một thời gian đủ để tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được xem xét để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với ông Đỗ Tuấn K2 khi mua 01 nhẫn vàng 24k, trọng lượng 02 chỉ từ bị cáo nhưng ông không biết số tài sản trên do bị cáo phạm tội mà có nên không phạm tội.

[4] Các biện pháp tư pháp:

  • - Về vật chứng vụ án: Số tiền 1.900.000 đồng, 01 túi xách nữ màu hồng, 01 áo dài tay màu xanh là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Như H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho bà H, là phù hợp; 01 nhẫn vàng 24k có trọng lượng 02 chỉ, K mang bán cho tiệm V do ông Đỗ Tuấn K2 là chủ tiệm V đã nấu chảy nên không thu hồi được.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Ông Lâm Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Như H không có yêu cầu gì, nên không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[6] Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ phù hợp với nhận định trên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Tùng K (Lâm Văn K1, Út T, Ú, D) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Tùng K (Lâm Văn K1, Út T, Ú, D) 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/08/2024, nhưng khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 14/02/2023 đến ngày 23/02/2023.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Huỳnh Tùng K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng người bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - STP tỉnh Đồng Nai ;
  • - Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • - VKSND huyện Cẩm Mỹ ;
  • - THA.DS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký và đóng dấu)

Trương Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Tung K về tội "Trộm cáp tài sản"
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger