Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HẢI DƯƠNG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DSPT

Ngày: 05/12/2024

“V/v tranh chấp chia di sản thừa kế”

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Hương Nhu

Bà Phạm Thuý Hằng

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Bà Bùi Thị Hậu - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 05 tháng 12 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm, thụ lý số 113/2024/TLPT- DS ngày 01/11/2024, về việc “ Tranh chấp chia di sản thừa kế”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DSST ngày 24/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương bị kháng cáo, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXXPT – DS ngày 18/11/2024, giữa:

  1. Nguyên đơn:

    Bà Vũ Thị L, sinh năm 1967 ( có mặt).

    Trú tại: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương

  2. Bị đơn:

    Ông Vũ Xuân H, sinh năm 1960 ( có mặt).

    Trú tại: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

    1. Bà Vũ Thị N, sinh năm 1969 (vắng mặt).

      Trú tại: Số B T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa.

    2. Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1974 (có mặt).

    3. Ông Vũ Bá H2, sinh năm 1968 ( vắng mặt).

      Trú tại: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    4. Ông Phạm Văn N1, sinh năm 1966 ( vắng mặt).

      Nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    5. Bà Bùi Thị G, sinh năm 1964 ( có mặt).

      Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

- Người đại diện theo uỷ quyền của bà N, ông N1: Bà Vũ Thị L, sinh năm 1967; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện T, tỉnh hải Dương. Có mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền của ông H2: Bà Vũ Thị H1, sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

- Người đại diện theo uỷ quyền của bà G: Ông Vũ Xuân H, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt.

  1. Người kháng cáo:

    Ông Vũ Xuân H - Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DSST ngày 24/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, vụ án có nội dung tóm tắt như như sau:

Theo nguyên đơn đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của bà N, ông N1 - Bà Vũ Thị L, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà - Vũ Thị H1 trình bày:

Cụ Vũ Xuân H3 (đã chết năm 2012), cụ Lê Thị X (đã chết năm 2022) là vợ chồng. Trong quá trình chung sống với nhau, hai cụ có sinh được 04 người con chung là: Vũ Xuân H, Vũ Thị L, Vũ Thị N, Vũ Thị H1. Ngoài ra hai cụ không có con đẻ, con nuôi nào khác.

Hai cụ tạo lập khối tài sản chung là thửa đất số 164, tờ bản đồ số 13 tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Thửa đất này đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho cụ H3, cụ X vào ngày 07/6/2010. Trên đất hiện nay còn nhà, bể, cổng, sân, bể phốt, lán, nhà vệ sinh và cây cối như hồng xiêm, nhãn, mít, cau là tài sản của hai cụ, không liên quan đến ai khác. Khi hai cụ chung sống với nhau hai cụ trực tiếp sử dụng thửa đất, không ở cùng với ai. Sau khi cụ H3 chết thì cụ X ở một mình trên đất. Năm 2022, sau khi cụ X chết thì không có ai trực tiếp ở trên đất, các con chỉ đến ngày giỗ, tết tập trung lo thờ cúng cho các cụ. Tuy nhiên, vào những ngày mùng 1, ngày rằm hàng tháng ông H không thắp hương cho các cụ, các bà có đến thì ông H thay khoá cổng không cho các bà vào trong đất.

Các cụ chết không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ phải thanh toán. Tiền mai táng phí cũng như chăm sóc nuôi dưỡng các cụ là do tất cả các con cùng lo nên nay phía nguyên đơn không đề nghị giải quyết.

Thửa đất vẫn là tài sản của hai cụ, chưa được tặng cho ai. Nay hai cụ đã chết, giữa phía nguyên đơn và ông H không thể đưa ra được phương án thống nhất, xảy ra mâu thuẫn nên nguyên đơn đề nghị chia di sản thừa kế là thửa đất nêu trên theo quy định pháp luật. Nguyên đơn tự nguyện không yêu cầu giải quyết đối với tài sản trên đất của hai cụ. Nếu sau này chia di sản thừa kế, tài sản nằm trên phần đất của ai người đó được hưởng, không phải trả trị giá tài sản cho người kia. Nếu yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, các bà L, N, Hiệp xin nhận di sản thừa kế của hai cụ bằng hiện vật. Trường hợp, diện tích đất của hai cụ không đủ để chia đều cho tất cả hàng thừa kế thì các bà có nguyện vọng chia chung cùng một vị trí. Các bà có ý kiến đề nghị phần đất có nhà của hai cụ giao cho ông H sử dụng. Các bà L, N, H1 đều có chỗ ở ổn định, tuy nhiên thửa đất là di sản của hai cụ, các bà mong muốn nhận bằng đất để giữ nơi tập trung, đi lại, thờ cúng cho các cụ. Trên thửa đất không có tài sản hay công sức của ai. Ngoài thửa đất này thì nguyên đơn không yêu cầu khởi kiện đối với tài sản nào khác.

Nguyên đơn nhất trí kết quả xem xét thẩm định, định giá, đề nghị chia di sản thừa kế trên cơ sở diện tích đo đạc hiện trạng đất của Toà án.

Về lệ phí xem xét thẩm định, định giá tài sản: Nguyên đơn đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.

- Theo bị đơn - ông Vũ Xuân H đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền của bà Bùi Thị G trình bày:

Về thời điểm hai cụ chết, về việc hai cụ sinh được 04 người con như nguyên đơn đã trình bày. Hai cụ không có con đẻ, con nuôi nào khác.

Nguồn gốc thửa đất số 164, tờ bản đồ số 13 tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương là tài sản được tạo lập khi cụ X, cụ H3 chung sống với nhau, là di sản của hai cụ để lại. Trên đất có công trình xây dựng, cây cối như nguyên đơn trình bày đều là tài sản của hai cụ, không liên quan đến ai khác. Hiện nay vợ chồng ông H sinh sống trên thửa đất tại thôn Đ, xã H. Cụ H3 chết, cụ X ở một mình, các con cùng có nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng cụ, không có ai ở cùng. Năm 2022, cụ X chết, ông H là con trai nên có trách nhiệm lo cúng giỗ, tế, tất cả các con cùng có nghĩa vụ đóng góp; thửa đất có cổng khoá, các ông bà đều có chìa khoá đề vào trong đất. Vào ngày mùng 1, ngày rằm theo quan điểm của ông H, ông là con trai thì ông muốn cho ai vào đất của hai cụ là việc của ông.

Hai cụ chết không để lại di chúc, không để lại nghĩa vụ thanh toán, tiền mai táng phí đã xong không yêu cầu giải quyết. Nay nguyên đơn yêu cầu chia di sản ông không đồng ý chia đất của hai cụ, ông có ý kiến ông là con trai và các cụ cũng chưa cho ông đất, do đó đất phải để cho ông quản lý lo cúng giỗ. Nếu trong trường hợp yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của nguyên đơn được chấp nhận thì quan điểm của ông phần diện tích đất hiện nay có nhà của hai cụ và nhà phải có sân, phần đất có nhà cũng như một phần sân phải để ông đứng tên, sử dụng làm nơi thờ cúng. Phần diện tích đất còn lại thì chia đều cho 04 người con của hai cụ. Đối với công sức của ông đi lại lo cúng giỗ cho hai cụ thì đề nghị Toà án xem xét một cách hợp lý. Đối với tài sản trên đất của hai cụ ông không yêu cầu giải quyết, sau này nếu chia vào phần đất của ai thì người đó được hưởng. Ông nhất trí kết quả xem xét thẩm định, định giá, đề nghị Toà án căn cứ diện tích đo đạc hiện trạng thửa đất để giải quyết theo quy định pháp luật.

- Kết quả xác minh tại UBND xã H, phòng tài nguyên môi trường huyện T:

Nguồn gốc thửa đất có tranh chấp trong vụ án tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương là của cụ X, cụ H3. Thửa đất này đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp cho cụ X, cụ H3. Căn cứ hồ sơ địa chính lập theo Chỉ thị 299 thể hiện thửa số 220, tờ bản đồ số 10 loại đất thổ cư, diện tích 586m2, loại đất thổ cư. Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 1997 thể hiện thửa số 164 tờ bản đồ số 13 diện tích 673m2, loại đất thổ cư, người sử dụng là cụ Vũ Xuân H3. Theo bản đồ địa chính đo đạc năm 2010 thể hiện thửa số 240 tờ bản đồ số 32, loại đất ở nông thôn, diện tích 666m2, người sử dụng là cụ Lê Thị X. Sau khi đo đạc qua các thời kỳ như ở trên thì cụ H3, cụ X đã chuyển nhượng một phần diện tích đất, không có tranh chấp gì. Phần diện tích đất còn lại là 470m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cụ X, cụ H3. Trong quá trình sử dụng đất không có tranh chấp quyền sử dụng đất, cạnh giáp ranh thửa đất. Hiện trạng thực tế do Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ thửa đất đang có tranh chấp có diện tích là 458,1m2, biến động giảm so với diện tích được cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do sai số khi đo đạc. Diện tích 458,1m2 là đất hợp pháp không nằm trong quy hoạch cũng như không vi phạm hành lang giao thông, thủy lợi, lưới điện. Diện tích đất ở thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ X, cụ H3 là cấp theo hạn mức. Vì vậy, diện tích đất ở được xác định là 97m2, phần diện tích đất biến động thay đổi được xác định diện tích đất trồng cây lâu năm (không có khái niệm đất vườn, đất vườn được coi là đất trồng cây lâu năm). Diện tích đất trồng cây lâu năm đủ điều kiện chuyển mục đích sử dụng sang đất ở, xác nhận là đất ở không phải nộp tiền. Tại thời điểm chia ruộng năm 1993, gia đình cụ X, cụ H3 chỉ có tiêu chuẩn cụ X được chia tiêu chuẩn, thực tế tiêu chuẩn 1 khẩu được chia là 600m2, trong đó có 203 m2 được trừ vào đất vườn tại thửa số 164 của cụ X, cụ H3.

* Kết quả thẩm định tại chỗ và định giá tài sản như sau:

  • Thửa đất số 164, tờ bản đồ số 13 tại thôn Đ, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương.

    1. Trị giá đất: Đất ở tại thửa đất đang có tranh chấp trị giá 8.600.000đ/m2; Đất trồng cây lâu năm trị giá 4.300.000đ/m2.

    2. Trị giá tài sản trên đất:

      - Công trình trên đất: 01 nhà diện tích 60,8m2 trị giá 0 đồng; sân bê tông diện tích 91,1m2 trị giá 6.605.527đ; 01 bể nước trị giá 0 đồng; 01 sân bê tông diện tích 13,8m2 trị giá 1.000.618đ; mái tôn diện tích 18,1 m2 trị giá 2.744.569đ; 01 lán Pro diện tích 9,4m2 trị giá 0 đồng; 01 nhà vệ sinh diện tích 5,5m2 trị giá 0 đồng; 01 chuồng chăn nuôi diện tích 3,4m2 trị giá 0 đồng; 01 bể phốt diện tích 1,7m2 trị giá 1.718.329đ; cánh cổng sắt trị giá 809.523đ; trụ cổng 483.818đ; 01 đoạn tường bao từ A2- A3, A3- A4, A4- A5- A6 trị giá 0 đồng; đoạn tường từ A7- A8- A9 trị giá 811.409đ; đoạn tường A10- A11 trị giá 837.665đ. Tổng trị giá 15.768.000đ.

  • Cây cối trên đất:

    + Cây cối phía trước nhà: 01 cây na trị giá 210.000đ; 02 cây nhãn đường kính tán 06m trị giá 1.800.000đ/cây = 3.600.000đ; 01 cây nhãn đường kính tán 04m trị giá 1.100.000đ; 04 cây hồng xiêm trị giá 320.000đ/cây= 1.280.000đ; 02 cây mít trị giá 550.000đ/ cây = 1.100.000đ; 02 cây cau trị giá 300.000đ/1 cây = 600.000đ.

Các đương sự nhất trí không đề nghị thẩm định, định giá một số cây tạp. Các đương sự xác định toàn bộ tài sản trên đất là của cụ X, cụ H3 và không yêu cầu giải quyết, nếu trường hợp tài sản chia vào phần đất của ai thì người đó được hưởng mà không phải thanh toán giá trị cho đương sự khác.

Bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DSST ngày 24/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, đã căn cứ Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 8, 216, 223, 609, 610, 611, 613, 614, 623, Điều 649, 650, 651 và Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự. Điều 16 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959. Điều 95, 100, 106, 166 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị L.

  1. Xác định di sản thừa kế của X, cụ H3 là quyền sử dụng 458,1m2 tại thửa số 164, tờ bản đồ số 13 (trong đó có 97,0m2 đất ở và 361,1 m2 đất trồng cây hành năm), tổng trị giá là 2.386.930.000đ. Trên đất có tài sản là công trình xây dựng gồm nhà, sân, bể, nhà vệ sinh, lán, bể phốt, chuồng chăn nuôi và cây cối gồm hồng xiêm, mít, nhãn, cau là tài sản của cụ X, cụ H3.

  2. Xác định hàng thừa kế của cụ X, cụ H3 gồm: ông Vũ Xuân H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị N, bà Vũ Thị H1.

  3. Áng trích công sức trông nom, quản lý đất cho ông Vũ Xuân H là 20.000.000₫.

  4. Xác định di sản còn lại của cụ X, cụ H3 để phân chia theo quy định pháp luật trị giá là 2.366.930.000đ.

    Các ông bà Vũ Thị L, Vũ Xuân H, Vũ Thị N, Vũ Thị H1 mỗi người được hưởng kỷ phần thừa kế của cụ X, cụ H3 trị giá 591.732.500đ.

  5. Chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu giải quyết của các đương sự đối với tài sản trên đất là di sản của cụ X, cụ H3. Tài sản nằm trên phần đất của ai được giao thì người đó được hưởng. Nếu tài sản nằm trên đường ranh giới phần chia thì các đương sự tự di dời, tháo dỡ.

  1. Phân chia hiện vật:

    1. Giao cho ông Vũ Xuân H được sử dụng 183,9m2 đất (trong đó 24,3 m2 đất ở; 159,6m2 đất trồng cây lâu năm) trị giá 895.260.000đ. Ông H được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm có công trình Nhà, bể, nhà vệ sinh, sân bê tông, lán lợp Pro, bể phốt, chuồng chăn nuôi, tường bao và một số cây như cau, na.

    2. Giao cho bà Vũ Thị L được sử dụng 101,1m2 đất (trong đó 24,3m2 đất ở; 76,8m2 đất trồng cây lâu năm) trị giá 539.220.000đ. Bà L được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm có sân bê tông, cổng, trụ cổng, cánh cổng.

    3. Giao cho bà Vũ Thị H1 được sử dụng 85,5m2 đất (trong đó 24,2m2 đất ở, 61.3m2 đất vườn) trị giá 471.710.000đ. Bà H1 được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm có một số cây là hồng xiêm, nhãn.

    4. Giao cho bà Vũ Thị N 87,6 m2 đất (trong đó 24,2 m2 đất ở, 63,4m2 đất trồng cây lâu năm) trị giá 480.740.000đ. Bà N được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất một số cây là nhãn, hồng xiêm, mít, cau.

Ông Vũ Xuân H có trách nhiệm thanh toán cho bà Vũ Thị L kỷ phần di sản được hưởng sau khi đối trừ hiện vật được giao là 52.512.500đ; có trách nhiệm thanh toán cho bà Vũ Thị H1 kỷ phần di sản được hưởng sau khi đối trừ hiện vật được giao là 120.022.500đ; có trách nhiệm thanh toán cho bà Vũ Thị N kỷ phần di sản được hưởng sau khi đối trừ hiện vật được giao là 110.132.500đ.

Ngoài ra bản án còn quyết định lãi suất chậm trả, về chi phí thẩm định, định giá, về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm ông Vũ Xuân H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án. Cụ thể ông H đề nghị Toà án cấp phúc thẩm chia cho ông đúng diện tích đất mà ông được hưởng, ông không đồng ý trả tiền chênh lệch cho những người được hưởng thừa kế khác.

Tại phiên tòa, ông H vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Bà L, bà H1 có quan điểm không chấp nhận kháng cáo của ông H, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương có quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Từ khi thụ lý đến thời điểm xét xử Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về hướng giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu trong hồ sơ cho thấy di sản của cụ H3 và cụ X gồm 458,1m2 đất và các tài sản trên đất tại thửa số 164, tờ bản đồ số 13. Cụ X và cụ H3 có 4 người con là ông H, bà L, bà H1, bà N. Do 2 cụ chết không để lại di chúc nên di sản của 2 cụ được chia đều cho 4 người con. Đồng thời do ông H là con trai nên cấp sơ thẩm đã chia phần đất có nhà cho ông H là phù hợp. Do vậy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông H. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:

    Quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông H kháng cáo trong thời hạn luật định, nên kháng cáo hợp lệ.
  2. Xét kháng cáo của ông Vũ Xuân H,

    Hội đồng xét xử thấy: Ông H kháng cáo đề nghị chia cho ông phần đất có diện tích đúng với phần di sản mà ông được hưởng, không đồng ý nhận phần đất có diện tích lớn hơn. Tuy nhiên xem xét về hình thể và kích thước của thửa đất thì thấy, do hình thể của thửa đất không vuông vắn, có độ dài các cạnh không đều nhau nên không thể chia đều diện tích đất cho các kỷ phần thừa kế. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà phúc thẩm ông H có nguyện vọng được chia phần đất trên đó có ngôi nhà để ông làm nơi thờ cúng. Kết quả xem xét thẩm định cho thấy ngôi nhà của cụ H3 và cụ X để lại được xây dựng nằm gọn trên 1 phần của thửa đất và nằm ở phần đất giáp với đất của ông Đoàn Văn Đ có độ dài 26 m. Do ông H là con trai duy nhất và có nguyện vọng giữ lại ngôi nhà làm nơi thờ cúng nên cấp sơ thẩm đã giao phần đất có nhà cho ông H quản lý, sử dụng là phù hợp.

    Tại phiên tòa ông H trình bày, ông chỉ nhận phần đất có nhà và nhận đủ diện tích đất tương ứng với kỷ phần mà ông được hưởng. Ông đề nghị cắt lại diện tích đất phía sau ngôi nhà để chia đều cho 4 anh em. Tuy nhiên căn cứ vào hình thể, kích thước của thửa đất thì thấy, nếu cắt lại phần đất phía sau thì phần đất này cũng không thể chia đều cho các đồng thừa kế, vì vậy Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho ông H và các bà L, H1, N mỗi người 1 phần đất đều có 1 cạnh giáp mặt đường và kéo dài đến hết thửa đất là đảm bảo giá trị sử dụng, phù hợp với thực tế. Do vậy nội dung kháng cáo này của ông H không có căn cứ chấp nhận.

    Đối với nội dung ông H đề nghị quy đổi 20.000.000 đồng tiền công sức của ông ra đất để trừ vào diện tích đất mà ông được hưởng, Hội đồng xét xử thấy tổng giá trị di sản của cụ H3 và cụ X để lại là 2.386.930.000 đồng. Lẽ ra toàn bộ giá trị di sản này sẽ được chia đều cho các hàng thừa kế. Tuy nhiên do ông H có công sức quản lý đất từ năm 2022 cho đến nay nên cấp sơ thẩm đã trích cho ông H 20.000.000 đồng tiền công sức trong khối di sản, số tiền này ông H được hưởng và không tính vào giá trị di sản còn lại để chia, ông H cũng không phải trả tiền chệnh lệch cho các bà L, H1, N đối với số tiền này, việc phân chia như vậy là phù hợp và đảm bảo quyền lợi cho ông H. Do vậy nội dung kháng cáo này của ông H cũng không có căn cứ chấp nhận.

    Đối với các nội dung khác như chi phí thẩm định, định giá tài sản, án phí... Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ, cấp phúc thẩm không phải xem xét lại.

    Từ phân tích trên cho thấy không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Vũ Xuân H.

  3. Về án phí phúc thẩm:

    Do ông H là người cao tuổi nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Xuân H4. Giữ nguyên bản án Dân sự sơ thẩm số 08/2024/DSST ngày 24/8//2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương như sau:

Áp dụng các: Điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 8, 216, 223, 609, 610, 611, 613, 614, 623, Điều 649, 650, 651 và Điều 357, 468 của Bộ luật Dân sự. Điều 16 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959. Điều 95, 100, 106, 166 Luật đất đai; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị L chia di sản thừa kế.

  1. Xác định di sản thừa kế của X, cụ H3 là quyền sử dụng 458,1m2 tại thửa số 164, tờ bản đồ số 13 (trong đó có 97,0m2 đất ở trị giá 834.200.000đ, 361,1m2 đất trồng cây lâu năm trị giá 1.552.730.000₫), tổng trị giá 2.386.930.000đ. Trên đất có tài sản là công trình xây dựng gồm nhà, sân, bể, nhà vệ sinh, lán, bể phốt, chuồng chăn nuôi và cây cối gồm hồng xiêm, mít, nhãn, cau là tài sản của cụ X, cụ H3.

  2. Hàng thừa kế của cụ X, cụ H3 gồm: ông Vũ Xuân H, bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị N, bà Vũ Thị H1.

  3. Áng trích công sức trông nom, quản lý đất cho ông Vũ Xuân H là 20.000.000₫.

  4. Sau khi áng trích công sức cho đương sự như đã nêu ở trên, di sản còn lại của cụ X, cụ H3 để phân chia theo quy định pháp luật trị giá là 2.366.930.000đ.

    Các ông bà Vũ Thị L, Vũ Xuân H, Vũ Thị N, Vũ Thị H1 mỗi người được hưởng kỷ phần thừa kế của cụ X, cụ H3 trị giá 591.732.500đ.

  5. Chấp nhận sự tự nguyện không yêu cầu giải quyết của các đương sự đối với tài sản trên đất là di sản của cụ X, cụ H3. Tài sản nằm trên phần đất của ai được giao thì người đó được hưởng. Nếu tài sản nằm trên đường ranh giới phần chia thì các đương sự tự di dời, tháo dỡ.

  6. Phân chia hiện vật:

    1. Giao quyền sử dụng đất giới hạn bởi các điểm A1, A2, A3, A10, A11, A12, A1 diện tích 183,9m2 tại thửa số 164, tờ bản đồ số 13 (trong đó 24,3 m2 đất ở; 159,6m2 đất trồng cây lâu năm) trị giá 895.260.000đ cho ông Vũ Xuân H sử dụng. Ông H được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm có công trình Nhà, bể, nhà vệ sinh, sân bê tông, lán lợp Pro, bể phốt, chuồng chăn nuôi, tường bao đoạn A12, A1, A2-A3 và một số cây như cau, na.

    2. Giao quyền sử dụng đất giới hạn bởi các điểm A3, A4, A5, B1, A9, A10, A3 diện tích 101,1m2 tại thửa số 164, tờ bản đồ số 13 (trong đó 24,3m2 đất ở; 76,8m2 đất trồng cây lâu năm) trị giá 539.220.000đ cho bà Vũ Thị L sử dụng. Bà L được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm có sân bê tông, cổng, trụ cổng, cánh cổng.

    3. Giao quyền sử dụng đất giới hạn bởi các điểm A5, B3, B2, A8, B1, A5 diện tích 85,5m2 tại thưa số 164, tờ bản đồ số 13 (trong đó 24,2m2 đất ở, 61.3m2 đất vườn) trị giá 471.710.000đ cho bà Vũ Thị H1 sử dụng. Bà H1 được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm có một số cây là hồng xiêm, nhãn.

    4. Giao quyền sử dụng đất giới hạn bởi các điểm B3, A6, A7, B2, B3 diện tích 87,6 m2 tại thửa số 164, tờ bản đồ số 13 (trong đó 24,2 m2 đất ở, 63,4m2 đất trồng cây lâu năm) trị giá 480.740.000đ cho bà Vũ Thị N sử dụng. Bà N được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất một số cây là nhãn, hồng xiêm, mít, cau.

    (Cụ thể kích thước các cạnh, tứ cận thửa đất có sơ đồ chi tiết kèm theo bản án).

    Đương sự phải có trách nhiệm tự phá bỏ, di dời tháo dỡ tài sản trên đất nếu tài sản trùng vào đường ranh giới phân chia đất.

    Đương sự phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất theo quy định pháp luật đất đai.

  7. Thanh toán trị giá kỷ phần tài sản (bao gồm công sức nếu có), trị giá chênh lệch tài sản được nhận:

    Ông Vũ Xuân H có trách nhiệm thanh toán trả cho bà Vũ Thị L kỷ phần di sản được hưởng (sau khi đối trừ hiện vật được giao) là 52.512.500đ; có trách nhiệm thanh toán cho bà Vũ Thị H1 kỷ phần di sản được hưởng (sau khi đối trừ hiện vật được giao) là 120.022.500đ; có trách nhiệm thanh toán cho bà Vũ Thị N kỷ phần di sản được hưởng (sau khi đối trừ hiện vật được giao) là 110.992.500đ.

Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án chưa thi hành thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ Luật dân sự.

  1. Chi phí thẩm định, định giá: Chi phí thẩm định, định giá là 7.100.000₫ Bà Vũ Thị L đã nộp đủ số tiền này. Các ông bà Vũ Xuân H, Vũ Thị N, Vũ Thị H1 mỗi người phải có nghĩa vụ hoàn lại cho bà Vũ Thị L số tiền là 1.775.000đ.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Vũ Xuân H. Bà Vũ Thị L, bà Vũ Thị H1, bà Vũ Thị N mỗi người phải chịu 27.669.300đ án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ 17.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà Vũ Thị L đã nộp theo biên lai thu số 0001049 ngày 19/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Hà, bà Vũ Thị L còn phải nộp 10.669.300 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Xuân H4 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Bản án Dân sự phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKS tỉnh Hải Dương;
  • - TAND huyện Thanh Hà;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Thanh Hà;
  • - Các Đương sự;
  • - Lưu;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DSPT ngày 05/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 96/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger