TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HS-ST
Ngày: 05 - 12 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thìn
Bà Đặng Thị Tuyết Hương
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thúy Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Vương Quang Thắng - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 90/2024/TLST - HS ngày 21/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST - HS ngày 11/11/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/QĐST - HS ngày 21/11/2024 đối với các bị cáo:
1. Phạm Sỹ T, sinh năm 2003 tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ dân phố R, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Sỹ T1 (đã chết); con bà Phùng Thị M, sinh năm 1985; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Minh C, sinh ngày 14/9/2007 tại huyện Đ, thành phố Hà Nội. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ A, thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội, nơi tạm trú: Thôn X, xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Học sinh; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T2 (đã chết); con bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Đại diện theo pháp luật của bị cáo C: Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn X, xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên (có mặt)
1
3. Nguyễn Thành C1, sinh ngày 29/5/2006 tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ dân phố S, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1977; con bà Đào Thị H1, sinh năm 1979; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4. Phạm Sỹ T4, sinh năm 2005 tại thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Tên gọi khác: Không.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ dân phố R, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Sỹ T1 (đã chết); con bà Phùng Thị M, sinh năm 1985; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Chưa có.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh C: Bà Lê Thị Thanh H2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh H (có mặt).
* Người bào chữa cho bị cáo Phạm Sỹ T, Phạm Sỹ T4: Bà Nguyễn Thị C2 - Luật sư - Đoàn luật sư thành phố H (có mặt).
* Bị hại:
Anh Lê Văn C3, sinh năm 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
* Người có quyên lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Lê Văn N, sinh năm 2004 (vắng mặt)
- - Chị Mai Thị L, sinh năm 1975 (vắng mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Cháu Phạm Tiến D, sinh ngày 26/8/2008 (vắng mặt)
Người đại diện theo pháp luật của cháu D:
- + Anh Phạm Minh T5, sinh năm 1984 (bố đẻ) (vắng mặt)
- + Chị Nguyễn Thị T6, sinh năm 1989 (mẹ đẻ) (vắng mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn X, xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
Anh Phạm Minh T5, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn X, xã X, thị xã M, tỉnh Hưng Yên
* Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 2000 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.
Cháu Nguyễn Thị Anh T7, sinh ngày 25/01/2007 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố P, phường M, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
Người đại diện theo pháp luật của cháu T7: Anh Vũ Văn H3 - Bí thư Đoàn thành niên phường B (vắng mặt).
Chị Phạm Thị Hoài P, sinh năm 1978 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố R, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
2
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 21/02/2024, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Hoda loại Wave a, biển số 20F1-453.15 chở C đi rút tiền ở gần khu vực nhà T. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T chở C về nhà T, khi đi qua khu nhà trọ thuộc tổ dân phố R, phường D do xe mô tô T điều khiển nẹt pô kêu to nên anh N đang thuê trọ tại đây có nói với T và C: “Đi chậm thôi, nhà có cháu nhỏ”. T đã dừng xe lại nói: “Bố mày thích đấy, như thế nào”, anh N nói: “Đợi tí” rồi đi vào phòng trọ. Thấy anh N đi vào phòng trọ, T chở C về nhà T. Lúc này tại nhà T có C1, sinh ngày 29/5/2006, T4, sinh năm 2005 (là em trai của T) và Phạm Tiến D, sinh ngày 26/8/2008 đang ngồi chơi. T vẫn còn bực tức với anh N nên đã rủ mọi người đi đánh nhau và nói với C1, T4 và D: “Ra đây với anh, có thằng nó chửi anh, C1 bên “Thằng nào?”, T nói: “Thằng ở trọ ngay đây hồi nãy”. Nghe thấy T rủ đi đánh nhau thì C, T4, C1 và D đồng ý. T vào nhà lấy 01 chiếc tuýp sắt dài 01m đường kính 02 cm để dưới kệ ti vi và nhặt 01 viên gạch đã vỡ rộng 10cm, dày 05cm, cạnh dài nhất 14cm, cạnh ngắn nhất 10cm ở rìa đường trước cửa nhà T đưa cho C. Sau đó, C1 điều khiển xe mô tô biển số 20F1-453.15 chở T cầm tuýp sắt và C cầm gạch còn Tín điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison biển số 89F1-584.39 chở D đi đến khu phòng trọ của anh N và anh Lê Văn C3, sinh năm 1996 (là anh trai của anh N) đang trọ ở tổ dân phố R, phường D mục đích để đánh nhau. Đến nơi, nhóm của T thấy anh C3 đang bế con đứng cùng anh N và chị V (là vợ của anh C3) ở cổng khu trọ. T đi lại gần phía anh N nói: “Vừa nãy mày chửi ai?”, anh C3 nói: “Nhà anh có con nhỏ, pô xe mày em to quá”. T cầm đoạn tuýp sắt đi lại gần anh C3 và anh N rồi dùng chân phải đạp vào đùi bên trái của anh N. Thấy vậy, anh C3 đưa con cho chị V bế rồi chạy vào phòng trọ lấy 01 gậy đánh golf màu xanh, bằng kim loại, dài khoảng 1,2m cầm ở tay phải chạy ra, anh N cũng chạy vào khu vực bếp trong phòng trọ của anh C3 lấy 01 con dao, loại dao kiểu dao thái dài 30cm, có chuôi gỗ màu nâu dài 12cm, phần lưỡi dao được làm bằng kim loại sáng màu, bản rộng dài 18cm, rộng 06cm cầm bằng tay phải chạy ra. Anh C3 cầm gậy đánh golf ra đánh T nhưng không trúng. T cầm tuýp sắt đánh trả nhưng cũng không trúng vào người anh C3 mà làm cho gậy đánh golf bị gãy. Tiếp theo, anh C3 đuổi theo C1 và D về phía tổ dân phố P, phường D thì C1 chạy vào trong ngõ, D chạy về phía trong làng. T cầm gậy đuổi theo anh C3. Anh N cũng cầm dao đuổi theo T và vung dao chém T 01 nhát nhưng không trúng. T cầm tuýp sắt giơ lên cao vụt từ trên xuống dưới trúng vào phần đỉnh đầu bên phải của anh N làm xước da đầu rồi tiếp đó cầm tuýp sắt giơ ngang ngang, vụt theo hướng từ phải qua trái, từ sau ra trước trúng vào phần sườn bên trái của anh N làm rách da chảy máu. Anh N lao vào giằng tuýp sắt của T rồi vụt 01 nhát trúng phần bả vai bên trái của T làm trầy xước da. Cùng lúc này, C cầm 01 viên gạch loại gạch chỉ mà lúc trước T đưa cho ném về phía anh C3 và anh N thì trúng vào đầu anh C3 làm vỡ, nún xương thái dương phải anh C3 bị ngã ngửa ra rìa đường. C1, T4 cầm gạch (loại gạch nát nên không rõ kích thước) ném về phía anh N và C3 nhưng không trúng
3
ai. Lúc này, C1 bị rơi điện thoại cúi xuống nhặt thì bị anh N cầm tuýp sắt vụt trúng bắp tay bên trái của C1. Sau đó C chở C1 và T trên xe mô tô biển số 20F1-453.15, Tín điều khiển xe mô tô biển số 89F1-584.39 đi về. Anh C3 được đưa đi bệnh viện cấp cứu và điều trị từ ngày 21/02/2024 đến ngày 01/3/2024 thì ra viện với thương tích xác định: Vết thương sọ não thái dương phải. G15 điểm.
Ngày 22/02/2024, Công an phường D đã báo cáo vụ việc trên đến Công an thị xã M. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ: Tại bãi đất trống phía Bắc giáp đường bê tông 01 viên gạch kiểu gạch đá hoa màu ghi xám đã bị vỡ không rõ hình thù (niêm phong lý hiệu M1); T8 tại vị trí bãi đất phía nam ven đường bê tông 01 mảnh vỡ gạch kiểu gạch đá hoa màu ghi xám (niêm phong lý hiệu M2); thu tại bãi đất phía nam ven đường bê tông 01 đoạn đầu gậy dạng gậy đánh golf đầu làm bằng kim loại sáng màu có chữ Ssing ssing, nối với đầu gậy là thân gậy dạng trụ tròn làm bằng các sợi liên kết với nhau, vỏ ngoài màu xanh. Có chiều dài 27cm (niêm phong lý hiệu M3); T8 tại mặt đường bê tông 01 viên gạch dạng gạch chỉ đỏ đã vỡ rộng 10cm, dày 05cm, cạnh dài nhất 14cm, cạnh ngắn nhất 10cm, bề mặt có nhiều vết xước (niêm phong lý hiệu M4) và thu dấu vết máu tại hiện trường (niêm phong lý hiệu M6); 01 đoạn gậy hình trụ tròn tổng chiều dài 64cn, có một đầu to, 01 đầu nhỏ, nửa phía đầu được bọc cao su màu đen, nửa phía đầu nhỏ màu xanh, phần đầu gậy bị gãy lộ ra chất liệu dạng sợi được liên kết với nhau bên trong, bên ngoài màu xanh có chữ Sing (niêm phong lý hiệu M7).
Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành xem xét dấu vết trên thân thể của Phạm Sỹ T: có 01 vết trày xước da tại phần bả vai bên trái có hình dạng không xác định kích thước (3,5x1,)cm. Xem xét dấu vết trên thân thể của anh Lê Văn N: tại khu vực đỉnh đầu bên phải có 01 vùng xước da đã đóng vẩy kích thước (3x3,5)cm xung quanh sưng nề kích thước (5x7)cm và tại khu vực sườn trái có 01 vết rách da đã đóng vảy, hình gấp khúc kích thước (4,5x2)cm độ dài hai cạnh lần lượt là 3,5 và 2,5 cm, chỗ hở rộng nhất là 0,4cm. Xem xét dấu vết trên thân thể của C1: tại vị trí mặt ngoài bắp tay trên cánh tay trái của C1 có dấu vết tổn thương hằn đỏ trên bề mặt da kích thước (12x01)cm có chiều chếch chéo từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, cách bả vai trái 10cm.
Ngày 22/02/2024, chị Lê Thị V1 đã giao nộp cho cơ quan điều tra 01 đoạn gậy bằng kim loại dài 01m, thân gậy hình trụ, rỗng giữa, đường kính 02 cm, (niêm phong ký hiệu M9) và 01 con dao dạng dao thái có chuôi gỗ màu nâu dài 12cm, phần lưỡi dao được làm bằng kim loại sáng màu, bản rộng dài 18cm, rộng 06cm trên dao có khắc chữ KIWI BRAND dao đã cũ. (niêm phong ký hiệu M8); Phạm Tiến D đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, biển số 20F1-453.15 và Phạm Sỹ T tự nguyện giao nộp cho cơ quan điều tra chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Vission, sơn màu xanh, biển số 89F1-584.39, 01 bản pho to đăng ký xe mô tô biển số 89F1-584.39.
Cơ quan điều tra Công an thị xã M đã cho T nhận diện chiếc gậy do chị V1 giao nộp. Sau khi quan sát T khẳng định chiếc gậy trên chính là chiếc gậy T lấy ở nhà sau đó mang đến khu vực dãy nhà trọ nơi anh C3, anh N ở để đánh nhau; cho T và C nhận diện viên gạch đã thu giữ. T, C đều nhận ra viên gạch trong
4
niêm phong chính là viên gạch mà T đưa cho C cầm đi đến khu vực dãy nhà trọ của anh N. Sau đó C đã cầm viên gạch trên ném gây thương tích cho anh C3. Cơ quan điều tra Công an thị xã M đã cho anh N nhận diện con dao đã thu giữ, sau khi quan sát anh N khẳng định đây chính là con dao đã sử dụng để xô xát đánh nhau. Ngày 13/3/2024 anh C3 làm đơn yêu cầu được đi giám định thương tích và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự. Còn anh N, T và C1 đều xác định chỉ bị thương tích nhẹ không phải đi khám điều trị ở đâu và đều tự nguyện từ chối giám định thương tích, không yêu cầu đề nghị gì.
Ngày 14/3/2024, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã M đã ra Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên trên cơ thể anh C3. Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 32/2024/KLTTCT-TTPY&GĐYK ngày 19/4/2024 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa, kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn C3 tại thời điểm giám định là 26%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích là do dạng vật cứng có gờ cạnh gây nên. Các thương tích vùng đầu của anh Lê Văn C3 phù hợp với thời điểm xảy ra vụ việc ngày 21/02/2024. Đối với thương tích của Lê Văn C3 nếu không được cấp cứu kịp thời cũng có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
Ngày 22/02/2024, cơ quan Cảnh sỏt điều tra Cụng an thị xó M tiến hành rà soỏt camera tại khu vực xảy ra xụ sỏt đỏnh nhau thỡ phỏt hiện gia đỡnh anh Nguyễn Văn P1, sinh năm 1984 tại tổ dõn phố S, phường D, thị xó M và anh Nguyễn Vũ B, sinh năm 1983 ở tổ dõn phố R, phường D cú lắp camera ghi lại hỡnh ảnh cỏc đối tượng xảy ra xụ xỏt đỏnh nhau nờn đó tiến hành sao lưu thành 02 file video được niờm phong ký hiệu V1 và V2. Sau đú Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giỏm định phũng K Cụng an tỉnh H giỏm định video trờn. Tại bản kết luận giỏm định số 94/KL-KTHS (KTS) ngày 25/5/2024 của Phũng K Cụng an tỉnh H, kết luận: Khụng phỏt hiện thấy dấu vết cắt ghộo, chỉnh sửa nội dung hỡnh ảnh liờn quan đến nội dung vụ việc trong 02 file video gửi giỏm định. H lại toàn bộ mẫu vật gửi giỏm định được lưu cựng hồ sơ vụ ỏn.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô biển số 20F1-453.15 do Phạm Tiến D giao nộp và chiếc xe mô tô biển số 89F1-584.39 do Phạm Sỹ T giao nộp. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô biển số 20F1-453.15 là tài sản hợp pháp của anh Phạm Minh T5, sinh năm 1984 ở thôn X, xã X, thị xã M (là bố của D), còn chiếc xe mô tô biển số 89F1-584.39 là tài sản hợp pháp của chị Phùng Thị M, sinh năm 1985 ở tổ dân phố R, phường D, thị xã M. Chị M và anh T5 không biết T, D sử dụng vào việc phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho T và anh T5. Đối với chiếc tuýp sắt, 03 viên gạch, đầu golt và phần đầu gậy golt bị gãy, 01 đoạn gậy hình trụ tròn và con dao đã thu giữ xác định đều liên quan đến tội phạm.
5
Về trách nhiệm dân sự: Anh C3 yêu cầu T và đồng phạm bồi thường cho anh tổng số tiền 200.000.000 đồng, gồm: Chi phí trong thời gian anh C3 khám và điều trị bệnh hết 31.500.000 đồng; chi phí về đi lại, ăn uống, thuê phòng nghỉ của anh C3 và bà Mai Thị L, sinh năm 1975 (là mẹ đẻ của anh C3) là người chăm sóc cho anh C3 nằm viện khoảng 60.000.000 đồng. Chi phí tổn thất về mất thu nhập, tổn thất tinh thần của anh C3 và mất thu nhập của bà L là 110.000.000 đồng. Bị can T, T4 và C đã chi trả một phần viện phí cho anh C3 và bồi thường trả anh C3 tổng số tiền là 180.000.000 đồng. Do vậy, anh C3 không có yêu cầu bồi thường gì về dân sự đối với T, T4, C và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho T, T4 và C. Đối với Nguyễn Thành C1, anh C3 và gia đình yêu cầu C1 phải bồi thường số tiền là 20.000.000 đồng, C1 nhất trí nhưng đến nay chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số: 85/CT - VKSMH ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên đã truy tố các bị cáo Phạm Sỹ T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Thành C1, Phạm Sỹ T4 đều về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố; bị cáo C1 nhất trí bồi thường cho anh C3 số tiền 20.000.000 đồng. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Sỹ T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Thành C1, Phạm Sỹ T4 đều phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo T. Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ T từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh C. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ; thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo C cho UBND thị trấn Đ giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Minh C.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành C1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng cải tạo không giam giữ; thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án. Giao bị cáo C1 cho UBND phường D giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thành C1.
6
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 54; khoản 1 Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Sỹ T4.
Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ T4 từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Sỹ T4 cho Ủy ban nhân dân phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo qui định tại Điều 91 của Luật thi hành án hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm; thì Công an cấp xã, phường, thị trấn đề xuất Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, thị xã, thành phố tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tiêu hủy: 01 (một) viên gạch kiểu gạch đá hoa màu ghi xám bị vỡ niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M1”; 01 (một) mảnh vỡ viên gạch đá hoa màu ghi xám niêm phong trong 01 phong bì dán kín ký hiệu là “M2”; 01 (một) đoạn đầu gậy dạng gậy đánh golf niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M3”; 01 (một) viên gạch dạng gạch chỉ đỏ đã vỡ, niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M4”; 01 (một) đoạn gậy hình trụ dài 64cm là một đầu gậy dạng gậy đánh golf niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M7”; 01 (một) con dao, dạng dao thái có chuôi bằng gỗ màu nâu, niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M8”; 01 (một) đoạn gậy kim loại kiểu dạng gậy tuýp sắt niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là "M9".
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589, Điều 590, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành C1 phải bồi thường cho anh C3 số tiền 20.000.000 đồng. Đối trừ với số tiền 2.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0002296 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào; bị cáo còn phải bồi thường cho anh C3 18.000.000 đồng.
Bị cáo C1 phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Bị cáo T, C, T4 phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo C chưa thành niên, người đại diện hợp pháp của bị cáo C sẽ nộp thay cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo C nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát đối với bị cáo C và đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất 01 nă 03 tháng cải
7
tạo không giam giữ. Người bào chữa cho các bị cáo T, T4 nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát đối với bị cáo T, T4 và đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo C, bị cáo C nhất trí quan điểm bào chữa của người bào chữa và không tranh luận; các bị cáo T, T4 nhất trí quan điểm bào chữa của người bào chữa và không tranh luận; bị cáo C1 không tranh luận, nhất trí với nội dung bản luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào. Bị cáo T đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội để làm lại cuộc đời; bị cáo C đề nghị được cải tạo tại địa phương để tiếp tục hoàn thành việc học.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thị xã M và điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hàovà kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra; căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp kết luận giám định pháp y về thương tích của Trung tâm pháp y và giám định y khoa Sở y tế tỉnh H, các biên bản hoạt động tố tụng, ngoài ra còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập. Do đó có đầy đủ căn cứ để kết luận: Do có mâu thuẫn trong việc nẹt pô xe mô tô gây tiếng ồn trước cửa phòng của anh Lê Văn N và anh Lê Văn C3 ở tổ dân phố R, phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên nên khoảng 20 giờ ngày 21/02/2024 Phạm Sỹ T đã rủ rê rồi cùng Nguyễn Minh C, Nguyễn Thành C1, Phạm Sỹ T4 và Phạm Tiến D sinh ngày 26/8/2008 sử dụng tuýp sắt, gạch vỡ là hung khí nguy hiểm đến khu vực phòng trọ của anh C3, anh N đánh gây thương tích cho anh C3 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 26%.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người khác, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Các bị cáo biết rõ hành vi gây thương tích cho người khác là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mâu thuẫn trong việc anh N1 nhắc nhở không nẹt pô tránh làm ảnh hưởng đến người dân sinh sống xung quanh mà nhóm của
8
T trong đó T dùng tuýp sắt, C, T, T4 dùng gạch là hung khí nguy hiểm để giải quyết mâu thuẫn; trong đó C đã dùng gạch ném về phía anh C3, anh N1 và trúng vào đầu anh C3 làm anh C3 bị tổn thương cơ thể 26% đã đủ yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích"; hành vi xuất phát từ nguyên nhân nhỏ nhặt nên có tính chất côn đồ; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Mỹ Hào truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, tuy nhiên các bị cáo không có sự phân công, bàn bạc với nhau trước nên hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ cấu thành đồng phạm giản đơn nhưng cũng cần phân hóa rõ vai trò, trách nhiệm của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
Trước hết đối với bị cáo T có vai trò khởi xướng, rủ rê lôi kéo C, C1 là người dưới 18 tuổi đi đánh nhau; trực tiếp chuẩn bị công cụ phạm tội là tuýp sắt và gạch vỡ (bị cáo cầm tuýp sắt; giao Chiến viên gạch vỡ) nên giữ vai trò đầu; C được T rủ rê, bị cáo không từ chối và cầm viên T đưa trực tiếp gây thương tích cho anh C3 nên giữ vai trò thực hành; các bị cáo C1, T4 dùng xe mô tô chở các bị cáo đi đánh nhau không trực tiếp gây thương tích cho anh C3 nên giữ vai trò thứ yếu trong trong vụ án.
Đối với D đi cùng và giúp sức về mặt tình thần cho các bị cáo nhưng do D dưới 16 tuổi nên D không phải chịu trách nhiệm hình sự, Công an thị xã M đã có công văn đề nghị UBND xã X xem xét áp dụng biện pháp giáo dục tại xã đối với D là có căn cứ, đúng pháp luật. Đối với hành vi của anh N, anh C3 đánh lại các bị cáo là phòng vệ chính đáng nên Tòa án không đặt ra để xét.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo T xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đều tỏ ra ăn năn hối hận thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T, T4, C tác động đến gia đình tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại nên các T, T4, C được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Các bị cáo có đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn xin giảm nhẹ hình phạt được địa phương xác nhận; bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo T, C, T4; bị cáo T, T4 có ông ngoại là thanh niên xung phong; bị cáo C có ông nội được tặng thưởng Huân chương, Huy chương; bị cáo C1 trước phiên tòa tự nguyện nộp 2.000.000 đồng tiền bồi thường thiệt hại tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào để bồi thường thiệt hại cho anh C3 (số tiền bồi thường thiệt hại nhỏ chưa đủ điều kiện để áp dụng điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Qua xem xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy
9
các bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội. Các bị cáo T, T4, C có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trước khi xét xử đã tích cực tác động đến gia đình bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại và người bị hại có đơn xin giảm trách nhiệm hình sự cho các bị cáo; các bị cáo C1, T4 giữ vai trò thứ yếu trong vụ án không trực tiếp gây thương tích cho bị hại; bị cáo T là người khởi xướng, chuẩn bị công cụ phạm tội, rủ rê lôi kéo người chưa thành niên phạm tội nên cần cách ly bị cáo T ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo. Bị cáo C có đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; bị cáo C1 có đủ điều kiện áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật hình sự và bị cáo T4 có đủ điều kiện để áp dụng khoản 1, 2 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo mức án dưới khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự. Các bị cáo C, C1, T4 có nơi cư trú ổn định, thành khẩn nhận tội, thật sự ăn năn hối hận về hành vi của mình, bị cáo T4 bị bệnh tim; bị cáo C đang đi học, các bị cáo C, C1 khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nhận thức còn hạn chế nên sẽ xử phạt các bị cáo C, C1 hình phạt cải tạo không giam giữ; bị cáo T4 hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, mức hình phạt như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và mang tính răn đe phòng ngừa. Xét bị cáo C, bị cáo C1 khi phạm tội các bị cáo đều dưới 18 tuổi nên không khấu trừ thu nhập đối với các bị cáo C1, C.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Trước khi xét xử các bị cáo T, C, T4 đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho anh C3; anh C3 đã nhận đủ tiền bồi thường và không yêu cầu các bị cáo T, C, T4 phải bồi thường thêm nên không phải giải quyết.
Đối với bị cáo C1, anh C3 yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho anh số tiền 20.000.000 đồng; bị cáo nhất trí bồi thường cho anh C3 số tiền trên. Việc bị cáo C1 nhất trí bồi thường theo yêu cầu của anh C3 là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Trước phiên tòa, bị cáo C1 đã tự nguyện nộp tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào số tiền 2.000.000 đồng mục đích để bồi thường một phần thiệt hại về sức khỏe cho anh C3; xét yêu cầu bồi thường của anh C3, đối trừ với số tiền bị cáo đã nộp để bồi thường thiệt hại cho anh C3, bị cáo còn phải bồi thường tiếp cho anh C3 18.000.000 đồng. Đối với T, C1 từ chối giám định thương tích, tự nguyện không yêu cầu giải quyết về phần bồi thường nên Tòa án không đặt ra để xét.
[5]. Về vật chứng:
Đối với: 01 (một) viên gạch kiểu gạch đá hoa màu ghi xám bị vỡ niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M1”; 01 (một) mảnh vỡ viên gạch đá hoa màu ghi xám niêm phong trong 01 phong bì dán kín ký hiệu là “M2”; 01 (một) đoạn đầu gậy dạng gậy đánh golf niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M3”; 01 (một) viên gạch dạng gạch chỉ đỏ đã vỡ, niêm
10
phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M4”; 01 (một) đoạn gậy hình trụ dài 64cm là một đầu gậy dạng gậy đánh golf niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M7”; 01 (một) con dao, dạng dao thái có chuôi bằng gỗ màu nâu, niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M8”; 01 (một) đoạn gậy kim loại kiểu dạng gậy tuýp sắt niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là "M9" là vật chứng vụ án liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với 02 xe mô tô các bị cáo sử dụng làm phương tiện đi đánh nhau, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh T5 và chị M; anh T5, chị M không biết các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.
[6]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo C1 phải chịu án phí dân sự theo quy định của pháp luật. Đối với bị cáo C chưa thành niên do người đại diện hợp pháp của bị cáo nộp thay.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Sỹ T.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Minh C.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; khoản 1 Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 100 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thành C1.
Căn cứ: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 54; khoản 1 Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Phạm Sỹ T4.
Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Sỹ T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Thành C1, Phạm Sỹ T4 đều phạm tội Cố ý gây thương tích.
Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ; thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án.
11
Giao bị cáo C cho UBND thị trấn Đ, huyện Đ, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Minh C.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C1 01 (một) năm 03 (ba) tháng cải tạo không giam giữ; thời gian tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo C1 cho UBND phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thành C1.
Xử phạt bị cáo Phạm Sỹ T4 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Sỹ T4 cho Ủy ban nhân dân phường D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân phường D trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Xử lý vi phạm đối với người được hưởng án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo đã bị kiểm điểm theo qui định tại Điều 91 của Luật thi hành án hình sự nhưng sau khi kiểm điểm vẫn tiếp tục vi phạm và đã được nhắc nhở bằng văn bản mà vẫn cố ý vi phạm; thì Công an cấp xã, phường, thị trấn đề xuất Uỷ ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn báo cáo, đề nghị cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, thị xã, thành phố tiến hành trình tự, thủ tục đề nghị Tòa án có thẩm quyền quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 587, Điều 589, Điều 590, Điều 468 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Nguyễn Thành C1 bồi thường cho anh Lê Văn C3 số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng). Đối trừ với số tiền 2.000.000 đồng, bị cáo nộp theo biên lai thu số 0002296 ngày 04/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào; bị cáo còn phải bồi thường cho anh Lê Văn C3 18.000.000 đồng (Mười tám triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án hợp pháp cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian chưa thi hành án;
12
Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tiêu hủy: 01 (một) viên gạch kiểu gạch đá hoa màu ghi xám bị vỡ niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M1”; 01 (một) mảnh vỡ viên gạch đá hoa màu ghi xám niêm phong trong 01 phong; bì dán kín ký hiệu là “M2”; 01 (một) đoạn đầu gậy dạng gậy đánh golf niêm phong trong 01 hộp giấy bìa; carton, ký hiệu là “M3”; 01 (một) viên gạch dạng gạch chỉ đỏ đã vỡ, niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M4”; 01 (một) đoạn gậy hình trụ dài 64cm là một đầu gậy dạng gậy đánh golf niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M7”; 01 (một) con dao, dạng dao thái có chuôi bằng gỗ màu nâu, niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là “M8”; 01 (một) đoạn gậy kim loại kiểu dạng gậy tuýp sắt niêm phong trong 01 hộp giấy bìa carton, ký hiệu là "M9".
(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận đồ vật tài liệu vật chứng ngày 18/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã M và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Mỹ Hào).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Sỹ T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Thành C1, Phạm Sỹ T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm hình sự. Bị cáo Nguyễn Thành C1 phải chịu 900.000 đồng (Chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự.
Đối với bị cáo C người đại diện hợp pháp của bị cáo C là bà Nguyễn Thị T3 nộp thay cho bị cáo.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Phạm Sỹ T, Nguyễn Minh C, Nguyễn Thành C1, Phạm Sỹ T4, người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Minh C; người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Minh C có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
13
- cáo; đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
- - Phòng KTNV TAND tỉnh Hưng Yên;
- - Sở tư pháp tỉnh Hưng Yên
- - Lưu hồ sơ vụ án.
Nguyễn Thị Oanh
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đặng Thị Tuyết Hương Nguyễn Thị Thìn | NGUYỄN THỊ OANH |
14
15
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ MỸ HÀO - TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tungchiencongtin134
