Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LẬP THẠCH

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 29 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Công Sinh.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thanh Nhất và bà Trần Thị Kim Khuyên.

-Thư ký phiên toà: Bà Phan Minh Triều - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Thúy Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T, sinh ngày 28/3/1992 (tên gọi khác: Không); nơi sinh và cư trú: Thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1969 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1972; vợ: Trương Thị L, sinh năm 1993; con: Có 01 con, sinh năm 2024; tiền án: tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Bà Quách Thị T3, sinh năm 1978 (đã chết).

Những người đại diện hợp pháp của bà T3:

  1. Ông Vũ Văn T4, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
  2. Chị Vũ Thanh T5, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt);
  3. Chị Vũ Thị T6, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);
  4. Chị Vũ Thị T7, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt);

Đại diện theo ủy quyền của ông T4, chị T6, chị T7: Chị Vũ Thanh T5, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị T8, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có mặt).

Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 (có giá trị đến ngày 28/02/2034). Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 07/6/2024, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 88C-256.11, nhãn hiệu Kia, loại xe tải, tải trọng 1.950kg, chở hàng cây cảnh đi từ xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc đi trên đường T lên nút giao IC6 xã V để lên Cao tốc N - Lào Cai đến huyện P, tỉnh Phú Thọ để giao hàng giúp chị Nguyễn Thị T8 là em gái T, ngồi trên ghế phụ có anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1997 trú tại thôn N, xã S, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi T lái xe đến địa phận thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc là khu vực đông dân cư, T điều khiển xe ô tô với tốc độ khoảng 50km/h. Thạch quan sát phía trước cùng chiều đi của mình cách khoảng 40 mét có bà Quách Thị T3 điều khiển xe máy điện đi bên phải cùng chiều của T, khi còn cách khoảng 15 mét, T nhìn thấy bà T3 đi chậm lại, bật đèn xi nhan bên trái, đồng thời đi chếch chéo sang bên trái đường để rẽ vào đường bê tông cách khoảng 30 mét đi vào thôn S, xã V. Lúc này T chủ quan nghĩ có thể vượt xe của bà T3 an toàn nên T đánh lái xe về bên trái đồng thời tăng ga để vượt xe của bà T3. Khi đầu xe ô tô của T vượt qua xe của bà T3 thì thùng xe bên phải xe ô tô của T va chạm vào phần bên trái xe máy điện do bà T3 điều khiển làm bà T3 và xe máy điện ngã đổ ra đường. Hậu quả bà T3 bị thương tích phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 07/6/2024 đến ngày 15/6/2024 bà T3 tử vong.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã khám nghiệm hiện trường, thu giữ vật chứng là xe ô tô tải biển kiểm soát 88C-256.11 nhãn hiệu Kia màu sơn xanh, tải trọng 1.950kg, cùng giấy tờ xe mang tên Nguyễn Thị T8; 01 giấy phép lái xe hạng B2 số [...] mang tên Nguyễn Văn T do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 29/02/2024; 01 xe máy điện biển kiểm soát 88MĐ5- 026.16 cùng giấy tờ xe mang tên Vũ Văn T4; khám các phương tiện tham gia giao thông liên quan đến vụ tai nạn, khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi theo quy định.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đường Tỉnh lộ 305C, thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, đường Tỉnh lộ trải nhựa áp phan rộng 11 mét mặt đường phẳng, thẳng, ở giữa có vạch kẻ đường màu vàng nét đứt. Chọn chiều khám nghiệm theo hướng từ xã T đi xã V, bên phải là nhà Thanh L1, bên trái là nhà T, nhà Tấn H1 và lối đường bê tông đi vào thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, lấy mép đường bên trái đường Tỉnh lộ 305C làm mép đường chuẩn và lấy đầu đốc của khuôn viên nhà bà Thanh M ở phía gần đường T hướng xã V làm điểm mốc chuẩn. Các dấu vết để lại tại hiện trường được thể hiện tại biên bản khám nghiệm hiện trường và sơ đồ hiện trường ngày 07/6/2024 (bút lục 21, 22, 24; biên bản khám phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ngày 07/6/2024 (bút lục 30, 31, 39, 40).

Ngày 15/6/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L ra Quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh V giám định nguyên nhân tử vong của bà Quách Thị T3. Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 1878/KLGĐTT- PC09-PY ngày 29/6/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh V kết luận: “Nguyên nhân chết của bà Quách Thị T3 chấn thương sọ não”.

Tại biên bản kiểm tra nồng độ cồn số 14490 vào hồi 20 giờ 11 phút ngày 07/6/2024 của Cơ quan điều tra Công an huyện L đối với Nguyễn Văn T xác định: Nồng độ cồn trong hơi thở của T là 0,000mg/L (Không có nồng độ cồn). Tại kết luận giám định số 1731/KL-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Không phát hiện thấy nồng độ cồn trong mẫu chất lỏng màu nâu đỏ được xác định là mẫu máu thu của Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định”. Tại kết luận giám định số 1733/KLGĐ-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Không phát hiện thành phần chất ma túy trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Văn T, sinh năm 1992, trú tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc gửi giám định”.

Tại Kết luận giám định số 1732 và 1734/KLGĐ-KTHS ngày 15/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: “Không có cồn trong máu, không có ma túy trong nước tiểu của bà Quách Thị T3”.

Tại Kết luận giám định kỹ thuật số điện tử số 2021/KLKTHS ngày 11/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Chụp được 06 hình ảnh phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra và quá trình di chuyển, thời điểm xẩy ra va chạm giữa xe ô tô của Nguyễn Văn T với xe máy điện do bà Quách Thị T3 điều khiển.

Tại kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 20/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “ Thiệt hại của xe ô tô biển kiểm soát 88C- 256.11 là: 300.000 đồng.

Tại kết luận định giá tài sản số 56/KL-HĐĐG ngày 21/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “ Thiệt hại của xe máy điện biển kiểm soát 88MĐ5 026.16 là: 250.000 đồng.

Sau khi Cơ quan điều tra thông báo nội dung các kết luận giám định, kết luận định giá tài sản Nguyễn Văn T và đại diện gia đình bị hại Quách Thị T3 đều đồng ý không ai có ý kiến khiếu nại gì.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bị hại 150.000.000 đồng, ông Vũ Văn T4 và chị Vũ Thanh T5 là đại diện theo ủy quyền của những người đại diện hợp pháp của người bị hại nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, tự khắc phục hậu quả và có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tại Cáo trạng số 86/CT-VKSLT ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch truy tố Nguyễn Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô thời hạn 01 năm. Xác nhận bị cáo đã bồi thường xong cho gia đình bị hại và đề nghị trả lại giấy phép lái xe cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án. Xác nhận các biên bản trả lại tài sản cho gia đình ông Vũ Văn T4 và chị Nguyễn Thị T8 là hợp pháp, tịch thu tiêu hủy mẫu vật sau giám định.

Tại phiên tòa bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được hưởng án treo cải tạo tại địa phương. Đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện của người bị hại không ai có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 19 giờ ngày 07/6/2024, Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 (có giá trị đến ngày 28/02/ 2034) điều khiển xe ô tô tải, tải trọng 1.950kg, biển kiểm soát 88C-256.11 tham gia giao thông đi theo đường Tỉnh lộ 305C hướng từ xã T đi xã V, huyện L để đi đến nút giao IC6 lên đường cao tốc N - Lào Cai, T điều khiển xe với tốc độ khoảng 50km/h trong khu vực đông dân cư thuộc địa phận thôn T, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Thạch quan sát thấy phía trước cách xe của T khoảng 40 mét có người đi xe máy điện đi bên phải cùng chiều của T, khi còn cách khoảng 15 mét, T thấy bà T3 đi chậm lại và bật xi nhan rẽ trái, đồng thời đi chếch chéo sang bên trái đường để sang đường vào lối mở đường bê tông cách khoảng 30 mét. Do chủ quan nghĩ có thể vượt xe an toàn nên T đánh lái sang trái để tránh bà T3 đồng thời tăng ga vượt xe bà T3, khi đầu xe ô tô của T điều khiển vượt qua xe bà T3 thì thành thùng bên phải phía sau xe ô tô của T va chạm với phần bên trái xe máy điện do bà T3 điều khiển làm bà T3 và xe máy ngã đổ ra đường. Hậu quả bà T3 bị thương tích phải đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh V từ ngày 07/6/2024 đến ngày 15/6/2024 tử vong, xe ô tô và xe máy điện bị hư hỏng nhẹ.

Xét lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp kết luận giám định về tử thi của Trung tâm Pháp y tỉnh V, phù hợp biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, phù hợp các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch. Như vậy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T có giấy phép lái xe ô tô hạng B2 theo quy định (có giá trị đến ngày 28/02/2034), điều khiển xe ô tô, tải trọng 1.950kg đi trong khu vực đông dân cư không giảm tốc độ, không chú ý quan sát, vượt xe đi cùng chiều không đảm bảo an toàn, đã va vào xe máy điện do bà Quách Thị T3 điều khiển đi cùng chiều đang có tín hiệu sang đường để rẽ vào thôn S, xã V, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, hậu quả bà T3 ngã ra đường bị thương nặng sau đó tử vong. Hành vi của Nguyễn Văn T đã vi phạm quy định tại khoản 11 Điều 8; khoản 2; điểm a khoản 4, điểm a khoản 5 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ; vi phạm khoản 5, 8 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT của Bộ G.

Khoản 11 Điều 8 Luật giao thông đường bộ: Các hành vi bị nghiêm cấm: “Điều khiển xe cơ giới ... vượt ẩu”.

Điều 14 Luật giao thông đường bộ quy định: Vượt xe

  • 2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi ... xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
  • 4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:
    • Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;
  • 5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:
    • Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

Điều 5 Thông tư số 31 quy định các trường hợp phải giảm tốc độ: Các trường hợp phải giảm tốc độ

“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:

  • ... 5. Qua ... khu vực đông dân cư ... ;
  • ... 8. ... khi có tín hiệu xin đường ... của xe đi phía trước;”

Đối chiếu với Bộ luật Hình sự năm 2015, bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

  • Làm chết người...”.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng của bà Quách Thị T3. Như chúng ta biết trong những năm qua mặc dù Đảng và Nhà nước ta có nhiều biện pháp nhằm giảm bớt các vụ tai nạn giao thông nhưng tình trạng vi phạm các quy định về an toàn giao thông đường bộ vẫn xảy ra hàng ngày, hàng giờ đã cướp đi biết bao sinh mạng con người và làm cho nhiều người bị tàn phế, gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người tham gia giao thông mỗi khi ra đường. Nguyên nhân của tình trạng trên là do ý thức của người tham gia giao thông đã không thực hiện nghiêm Luật Giao thông đường bộ, bị cáo không tuân thủ các quy định về tham gia giao thông, không chấp hành quy định về tốc độ trong khu dân cư, khi vượt xe không đảm bảo an toàn. Trong vụ án này lỗi chính do bị cáo gây ra vì vậy cần có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.

Xét nhân thân bị cáo Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử thấy rằng trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân tốt bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo là người phát triển bình thường về thể chất và tinh thần, nhận thức được việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện. Khi tham gia giao thông, không chấp hành các quy định về an toàn giao thông dẫn đến gây ra vụ tai nạn. Lẽ ra phải phạt bị cáo mức án cao, xong xét thấy sau khi xảy ra tai nạn bị cáo đã nhờ người đi đường gọi xe đưa người bị hại đi cấp cứu, ở cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đã tự nguyện bồi thường cho đại diện người bị hại, người bị hại cũng có lỗi một phần, đại diện bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Đó là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo, bị cáo là người có nhân thân tốt, trước khi phạm tội bị cáo luôn chấp hành tốt các chủ trương đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, có nơi cư trú ổn định, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt tù cho bị cáo hưởng án treo ấn định thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ nơi bị cáo cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện bồi thường số tiền 150.000.000 đồng cho gia đình bà Quách Thị T3, đại diện gia đình là ông Vũ Văn T4 (chồng bà T3) và chị Vũ Thanh T5 (con gái bà T3) đã nhận đủ số tiền, không có yêu cầu đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”. Xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo một thời gian nhất định.

[5] Về xử lý vật chứng vụ án: Ngày 07/8/2024, Công an huyện L đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T8, sinh năm 1994 ở thôn T, xã Đ, huyện S (em gái T) 01 xe ô tô tải BKS 88C-256.11 cùng giấy tờ xe là đúng chủ sở hữu và trả lại cho chị Vũ Thanh T5 (con gái bà Quách Thị T3) 01 xe máy điện BKS 88MD5- 026.16 là có căn cứ. Nhận lại tài sản chị T8, chị T5 không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] do Sở G cấp cho Nguyễn Văn T ngày 29/02/2024 (bản gốc), cần trả lại cho T nhưng tiếp tục tạm giữ trong thời gian cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô để đảm bảo thi hành án. Mẫu trả sau giám định theo Kết luận giám định số 1731, 1733, 1734 cùng ngày 15/6/2024 không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy. Mẫu trả sau giám định (kỹ thuật số điện tử) theo Kết luận giám định số 2021 ngày 11/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh V là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu trong hồ sơ vụ án.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ vào khoản 5 Điều 260, Điều 41 Bộ luật Hình sự: Cấm bị cáo Nguyễn Văn T hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 (Một) năm kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 giấy phép lái xe ô tô hạng B2 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh V cấp ngày 29/02/2024 cấp cho Nguyễn Văn T nhưng cần tạm giữ trong thời gian cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô để đảm bảo công tác thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy mẫu trả sau giám định theo kết luận giám định số 1731, 1733, 1734 cùng ngày 15/6/2024 (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo, người đại diện hợp pháp của người bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Lập Thạch;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lập Thạch;
  • - Công an huyện Lập Thạch;
  • - UBND xã Đồng Ích, huyện Lập Thạch;
  • - Bị cáo; đại diện bị hại; người có QLNVLQ;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Lưu HS, bộ phận theo dõi THAHS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Sinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thạch vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger