Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 28-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Việt Hòa, chức vụ: Phó Trưởng phòng Phòng Giáo dục huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
  2. Bà Trần Thị Hiền, chức vụ: Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã Định Hưng, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Thư ký phiên tòa:

Ông Lê Văn Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Bà Trịnh Thị Phượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 94/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Xuân P, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 07/01/2008, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội đầu tiên, bị cáo 16 tuổi 04 tháng 11 ngày tuổi); Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Xuân P1, sinh năm: 1978; Con bà: Lê Thị N, sinh năm: 1982; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, đến ngày 18/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Phạm Hùng S, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 04/3/2007, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội đầu tiên, bị cáo 17 tuổi 02 tháng 14 ngày tuổi); Nơi cư trú: Thôn S, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Trọng K, sinh năm: 1961; Con bà: Lê Thị N1, sinh năm: 1966; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024, đến ngày 18/7/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Lê Đắc Thành Đ, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 04/9/2007, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 10 tháng 07 ngày tuổi); Nơi thường trú: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Nơi tạm trú và nơi ở hiện nay: Thôn S, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Đắc T, sinh năm: 1985; Con bà: Phạm Thị X, sinh năm: 1986; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024 đến ngày 18/7/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Lê Văn N2, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 16/11/2007, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 07 tháng 25 ngày tuổi); Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn V, sinh năm: 1979; Con bà: Lê Thị L, sinh năm 1980; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/8/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Phạm Trọng T1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 16/8/2005, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn S, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phạm Trọng B, sinh năm: 1982; Con bà: Lê Thị H, sinh năm 1985; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/8/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  6. Họ và tên: Lê Tuấn A, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 31/5/2007, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 17 tuổi 01 tháng 11 ngày tuổi); Nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Văn V, sinh năm: 1976; Con bà: Trịnh Thị L1, sinh năm 1979; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/8/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

  7. Họ và tên: Lê Bá K1, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 19/6/2008, tại xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa (tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo 16 tuổi 0 tháng 22 ngày tuổi); Nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Học sinh; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Bá K2, sinh năm: 1968; Con bà: Trương Thị H1, sinh năm 1978; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 26/8/2024 cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2, Lê Tuấn A và Lê Bá K1:

Bà Nguyễn Thị N3 - Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Xuân P: Bà Lê Thị N, sinh năm: 1982, địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Hùng S: Ông Phạm Trọng K, sinh năm: 1961, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Đắc Thành Đ: Anh Phạm Trọng T2, sinh năm: 1994, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Văn N2: Bà Lê Thị L, sinh năm: 1980, địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Tuấn A: Bà Trịnh Thị L1, sinh năm: 1979, địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Bá K1: Ông Lê Bá K2, sinh năm: 1968, địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Đại diện Trường THPT Y, địa chỉ: Thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa: Thầy Nguyễn Xuân T3 - Giáo viên chủ nhiệm lớp 12 A4. Có mặt.

- Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên huyện Y, địa chỉ: Thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Hoàng Duy T4, sinh ngày: 04/8/2007, địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

Người đại diện: Bà Nguyễn Thị K3, sinh năm: 1981, địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Thái Văn Hoàng H2, sinh ngày: 20/9/2009, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện: Ông Lưu Đình M, sinh năm: 1982, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  2. Anh Lâm Quốc Q, sinh ngày: 25/9/2008, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện: Ông Lâm Quang T5, sinh năm: 1981, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Ngọc T6, sinh ngày: 16/6/2008, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện: Ông Nguyễn Ngọc B1, sinh năm: 1959, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  4. Anh Lê Bảo L2, sinh ngày: 28/6/2008, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện: Ông Lê Văn G, sinh năm: 1983, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  5. Anh Trịnh Khánh H3, sinh ngày: 28/11/2007, địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện: Bà Trịnh Thị H4, sinh năm: 1959, địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  6. Anh Trịnh Viết P2, sinh ngày: 03/11/2007, địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện: Bà Lê Thị L3, sinh năm: 1983, địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  7. Anh Lê Quang Quốc H5, sinh ngày: 19/8/2008, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Người đại diện: Ông Lê Quang Đ1, sinh năm: 1959, địa chỉ: Thôn S, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  8. Anh Hoàng Thái D, sinh năm: 1999, địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  9. Anh Lê Đình T7, sinh năm: 2005, địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  10. Anh Hoàng Ngọc T8, sinh năm: 2003, địa chỉ: Thôn B, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  11. Anh Lê Thế T9, sinh ngày: 11/4/2008, địa chỉ: Khu C, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  12. Anh Trịnh Minh Đ2, sinh ngày: 24/8/2006, địa chỉ: Khu E, thị trấn Q, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  13. Anh Ngô Minh Đ3, sinh ngày: 14/12/2007, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  14. Anh Phạm Viết Minh H6, sinh ngày: 01/12/2009, địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  15. Anh Phạm Viết D1, sinh ngày: 18/12/2008, địa chỉ: Thôn P, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  16. Anh Nguyễn Tiến D2, sinh ngày: 15/12/2006, địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  17. Anh Trịnh Mạnh H7, sinh ngày: 23/3/2007, địa chỉ: Thôn C, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  18. Anh Lê Xuân T10, sinh ngày: 04/11/2007, địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  19. Anh Phạm Anh K4, sinh ngày: 10/3/2008, địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  20. Anh Nguyễn Văn D3, sinh ngày: 15/7/2006, địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  21. Anh Nguyễn Hữu T11, sinh ngày: 08/01/2006, địa chỉ: Thôn A, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  22. Anh Hoàng Việt A1, sinh ngày: 27/11/2007, địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 11/7/2024, Lê Đắc Thành Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6 - 256.04, mang theo 01 thanh kiếm dài khoảng 60 - 70cm, có vỏ bao kiếm làm bằng gỗ màu nâu - đen để ở bên hông dọc ống bô của xe đến khu vực gần trường THCS xã Y, huyện Y thì gặp Lê Xuân P, Phạm Trọng T1, Lê Bá K1, Phạm Hùng S và Lê Quang Quốc H5 (sinh ngày 19/8/2008, ở thôn S, xã Y, huyện Y). Khi gặp nhau P bảo Đ cất kiếm đi, đồng thời P cầm kiếm cất vào trong bụi cây ven đường. Tại đây tất cả thống nhất rủ nhau đi chơi. Cả nhóm đi trên 02 xe, Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36B6 - 256.04 chở S và P; H5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 36BA - 005.91 chở T1 và K1. Khi cả nhóm đi đến đoạn cầu X thuộc địa phận xã Y, huyện Y thì gặp nhóm thanh niên xã Y gồm 08 người đi trên 03 xe mô tô, trong đó có Lê Tuấn A, Lê Văn N2 và Thái Văn Hoàng H2 (sinh ngày 19/06/2009, ở thôn C, xã Y, huyện Y). Nhóm thanh niên xã Y nhận ra người quen nên đi theo nhóm của P. Tuy nhiên, nhóm P nghĩ nhóm thanh niên này đi theo để đánh nên bỏ chạy về hướng xã Y. Trên đường đi thì S nói T1 đưa thắt lưng cho S, Tư tháo thắt lưng đang đeo ở quần đưa cho S cầm để nếu xảy ra đánh nhau thì S dùng để đánh lại. Khi đến đoạn gần trường THCS xã Y thì nhóm P dừng xe lại, P xuống bụi cây ven đường lấy thanh kiếm đã cất trước đó giơ lên dọa nhóm thanh niên xã Y. Lúc này hai nhóm nhận ra có người quen nên không xảy ra đánh nhau, đồng thời rủ nhau đi lên xã Y xem tập thiếu nhi. Lúc này P cầm theo kiếm của Đ còn S cầm theo thắt lưng của T1.

Cả nhóm đi qua nhà truyền thống thôn B, xã Y (tại đây đang có hoạt động tập thiếu nhi), khi đi qua khoảng 100m thì vòng xe quay lại. Lúc này anh Hoàng Duy T4 (sinh ngày 04/8/2007, ở thôn B, xã Y) đang ngồi chơi ở cổng nhà truyền thống có ném 01 khúc mía dài 70cm sang mương nước phía bên đường thì trúng vào đầu của Đ và khuỷu tay phải của S. Lúc này nhóm Đ dừng xe, P cầm theo thanh kiếm, S để thắt lưng của T1 ở trên yên xe mô tô của Đ, rồi P, Đ, S đi vào trong sân nhà truyền thống. Khi thấy nhóm P đi vào sân nhà truyền thống thì anh Hoàng Duy T4 chạy vào khu vực góc sân nhà truyền thống đứng. Nhóm P đi vào trong sân nhà truyền thống thì nhóm thanh niên ở xã Y cũng đi vào sân.

Khi đến sân, Đ rút kiếm ra khỏi vỏ bao mà P đang cầm rồi cầm kiếm chỉ về phía anh T4 đang đứng nói “Đứa nào ném đá vào đầu tao?”. S hỏi “Có phải mi ném đá không?” rồi xông lại đạp anh T4. Anh Tú chạy lên hè nhà truyền thống thì S đuổi theo tiếp tục dùng tay đấm vào người anh T4. Khi đó P cầm theo bao kiếm bằng gỗ chạy lại vụt 02 cái vào lưng anh T4. Đ vứt kiếm xuống đất và xông lại dùng tay xiết cổ anh T4. Lúc này N2 cũng có mặt dùng tay, chân đấm, đá vào người anh T4 rồi nhặt 01 cán cờ làm bằng ống nhựa để ở trên sân đập một cái vào vai anh T4 làm cán cờ bị gãy đôi. N2 bỏ cán cờ xuống sân tiếp tục dùng chân phải đá một cái vào bắp chân anh T4. Tuấn A lao lại dùng tay đấm vào đầu anh T4. H2 dùng tay đấm 02 cái trúng vào lưng anh T4. P thấy Đ ném kiếm xuống sân thì quay lại nhặt kiếm, N2 can ngăn giằng lấy kiếm từ tay P rồi bỏ kiếm vào bao. P lấy kiếm từ tay N2 và đi ra ngoài cổng. Được mọi người can ngăn nên Đ không đánh nữa và đi ra ngoài cổng. Khi ra đến cổng, Đ gặp T1, K1 đi vào. Khi đó Đ kể với T1 về việc bị anh T4 ném vào đầu thì T1 cầm dây thắt lưng mà S đang để trên yên xe mô tô của Đ rồi cùng với K1 chạy về phía anh T4. Lúc này, anh T4 đang đứng ở gần đường vào khu vực nhà vệ sinh thì S nói “Mi thích đập không?”, rồi S cầm cán cờ bằng ống nhựa dài khoảng 02m ở gần bậc hè lên xuống nhà truyền thống vụt vào vai anh T4; cùng lúc này K1 cũng dùng tay đấm 02 cái vào người anh T4; T1 xông lại dùng thắt lưng vụt vào lưng anh T4. Sau đó, anh T4 chạy vào trong nhà vệ sinh đóng cửa lại trốn. Lúc này, nghe có người hô có công an đến nên nhóm thanh niên ở xã Y và xã Y chạy ra cổng đi về. Ngày 12/7/2024, Lê Xuân P, Phạm Hùng S và Lê Đắc Thành Đ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú.

Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể đối với anh Hoàng Duy T4 lập hồi 23 giờ 06 phút ngày 11/7/2024 thể hiện anh T4 có các vết sưng tấy đỏ, trầy xước da, bầm tím tại vùng đầu phía trên tai trái, lưng trái, vai trái, cổ tay và cánh tay phải, vùng cổ phải, cẳng tay trái. Kết luận giám định của V1 Bộ C kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Hoàng Duy T4 là 02%. Anh Tú có đơn đề nghị không khởi tố hình sự về tội Cố ý gây thương tích.

Về vật chứng vụ án:

Số vật chứng của vụ án hiện đang được quản lý và nhập kho vật chứng theo quy định của pháp luật, gồm:

  • 01 (một) khúc mía màu vàng dài 70cm;
  • 01 (một) cục đá màu xanh, trắng có kích thước 13 x 7 cm;
  • 01 (một) ống nhựa dài 46cm, dạng ống đường kính 2,1 cm đã bị dập nát một đầu; một đầu quấn giấy thiếc màu vàng đỏ.
  • 01 (một) chiếc thắt lưng bằng da, màu đen có tổng chiều dài 109cm, rộng 3,5cm; một đầu có gắn kim loại màu sáng, đã qua sử dụng.

Đối với 01 thanh kiếm dài khoảng 60 - 70cm, có vỏ bao kiếm làm bằng gỗ màu nâu - đen của Đ, khi về Đ đã ném sang bên đường, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được.

Về phần dân sự: Các bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Hoàng Duy T4 tống số tiền là 11.500.000 đồng, anh T4 đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu gì thêm.

Quá trình anh Hoàng Duy T4 bị đánh thì có rơi 01 điện thoại di động màu đỏ, nhãn hiệu Realmi 5S làm màn hình điện thoại bị rạn vỡ, nút phím nguồn và phím tăng âm bị bung khỏi vị trí định vị. Điện thoại là của anh Hoàng Thái D, sinh năm 1999 ở thôn B, xã Y, khi ở nhà truyền thống anh D đã đưa cho anh T4 cầm để mở nhạc cho các em thiếu nhi múa hát. Kết luận định giá xác định trị giá của chiếc điện thoại bị hư hỏng là 800.000đ. Anh D không yêu cầu phải bồi thường.

Ngoài thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, Lê Xuân P và Phạm Hùng S còn thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng vào đêm 18/5/2024 tại thôn D, xã Đ, huyện Y và đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y khởi tố, sau đó được tách ra và nhập để điều tra trong vụ án này. Cụ thể như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 18/5/2024, nhóm đối tượng gồm Nghiêm Anh H7 (sinh ngày 04/01/2008, ở xã Đ), Trịnh Minh Đ2 (sinh ngày 24/8/2006), Ngô Minh Đ3 (sinh ngày 14/12/2007), Lê Thế T9 (sinh ngày 11/4/2008), Trịnh Hữu N4 (sinh ngày 11/8/2006) đều ở thị trấn Q, Hoàng Lê D4 (sinh ngày 12/3/2007, ở xã T, huyện T), Trịnh Duy K5 (sinh ngày 13/10/2003, ở xã Đ) và Trương Văn S1 (sinh ngày 11/8/2007, ở thôn Y, xã V, huyện V) gặp và rủ đi chơi cùng nhau. Cả nhóm gồm 08 đối tượng đi trên 03 xe mô tô từ thị trấn Q theo Quốc lộ D lên Phố Kiểu, xã Y rồi lại vòng quay về hướng thị trấn Q. Trên đường đi Trương Văn S1 nói “kiểu chi cũng gặp bọn hắn” (ý Trương Văn S1 là nhóm người xã Y đánh nhau với Trương Văn S1 trước đó). Khi nhóm của Trương Văn S1 đi qua đoạn cây xăng xã Đ thì gặp nhóm đối tượng xã Y đi ngược chiều trên 02 xe mô tô gồm: Phạm Viết D1 (sinh ngày 18/12/2008), Nguyễn Văn H8 (sinh ngày 03/4/2007), Vũ Thành Đ4 (sinh ngày 21/22/2007), Phạm Viết Minh H6 (sinh ngày 01/12/2009), Hoàng Việt A1 (sinh ngày 27/11/2007). Cho rằng đây là nhóm xã Y nên Trương Văn S1 đã bảo cả nhóm Quán Lào lùa đuổi. Thấy bị lùa đánh, nhóm của H6 bỏ chạy về nhà Nguyễn Tiến D2 (sinh ngày 15/12/2006 ở thôn T, xã Y). Lúc này tại nhà Nguyễn Tiến D2 có các đối tượng gồm: Nguyễn Văn D3 (sinh ngày 15/7/2006, ở xã Y), Lê Đắc T12 (sinh ngày 08/10/2006), Lê Xuân T10 (sinh ngày 04/11/2007), Phạm Hùng S (sinh ngày 04/3/2007), Lê Xuân P (sinh ngày 07/01/2008) đều ở xã Y, Trịnh Mạnh H7 (sinh ngày 23/3/2007), Nguyễn Hữu T11 (sinh ngày 08/01/2006) và Phạm Anh K4 (sinh ngày 10/3/2008) đều ở xã Y là bạn của D2. Phạm Viết Minh H6 nói vừa bị nhóm Quán L4 đuổi đánh và bảo mọi người đi tìm đánh lại nhóm Quán Lào thì tất cả đồng ý.

Sau đó hai nhóm thanh niên thị trấn Q và nhóm xã Y, Y bao gồm các đối tượng nêu trên đã thực hiện hành vi đi xe mô tô lùa đuổi đánh nhau, ném vỏ chai bia vào nhau, sử dụng các hung khí nguy hiểm như bắn súng cồn tự chế đe doạ nhau và dùng dao tự chế chém vào nhau gây thương tích trên đoạn đường từ thị trấn Q, đi xã Đ rồi lên xã Y, trên dọc đường Q nơi có nhiều người và phương tiện lưu thông qua lại. Trong đó: Phạm Hùng S đi xe cùng Phạm Viết D1, quá trình lùa đuổi nhau Phạm Hùng S cầm vỏ chai bia ném về phía nhóm Quán L4. Khi nhóm Phạm Hùng S đuổi kịp và chặn được xe Ngô Minh Đ3 thì Phạm Hùng S xuống xe lao vào dùng tay chân đánh Đ3 và Trịnh Minh Đ2. Sau đó, Phạm Hùng S cùng với Nguyễn Tiến D2 đốt khẩu súng tự chế tại nhà D2. Lê Xuân P mang theo súng tự chế đi từ nhà, đi xe mô tô chở Trịnh Mạnh H7 và Nguyễn Tiến D2 cầm súng tự chế, vỏ chai bia lùa đuổi nhóm Quán Lào. Khi đuổi kịp xe Ngô Minh Đ3 thì P đã dùng chân đạp vào người Trịnh Minh Đ2. Hậu quả Trịnh Minh Đ2 và Ngô Minh Đ3 bị thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 04%. Ngô Minh Đ3 và Trịnh Minh Đ2 và gia đình đã có đơn đề nghị không khởi tố hình sự và không yêu cầu bồi thường dân sự.

Hành vi của các đối tượng Trương Văn S1, Hoàng Lê D4, Nghiêm Anh H9, Trịnh Hữu N4, Trịnh Duy K5, Ngô Minh Đ3, Trịnh Minh Đ2, Lê Thế T9, Trịnh Mạnh H7, Nguyễn Tiến D2, Lê Xuân T10, Phạm Anh K4, Nguyễn Hữu T11, Hoàng Việt A1, Nguyễn Văn D3 cũng như việc xử lý vật chứng và những tình tiết liên quan khác của vụ việc xảy ra ngày 18/5/2024 đã được giải quyết trong vụ án khác.

Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSYÐ ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Phạm Trọng T1 và Lê Văn N2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lê Tuấn A và Lê Bá K1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2, Phạm Trọng T1, Lê Tuấn A và Lê Bá K1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2 và Phạm Trọng T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; tuyên bố các bị cáo Lê Tuấn A và Lê Bá K1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Đề nghị về hình phạt như sau:
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Xuân P và bị cáo Phạm Hùng S từ 20 đến 23 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 12/7/2024.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Đắc Thành Đ và bị cáo Lê Văn N2 từ 18 đến 20 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Trọng T1 từ 24 đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với Lê Tuấn A, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Tuấn A và bị cáo Lê Bá K1 từ 6 đến 9 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm 01 khúc mía màu vàng dài 70cm; 01 cục đá màu xanh, trắng có kích thước 13 x 7 cm; 01 ống nhựa dài 46cm, dạng ống đường kính 2,1 cm đã bị dập nát một đầu; một đầu quấn giấy thiếc màu vàng đỏ và 01 chiếc thắt lưng bằng da, màu đen có tổng chiều dài 109cm, rộng 3,5cm; một đầu có gắn kim loại màu sáng, đã qua sử dụng.
  • - Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
  • - Người bào chữa cho các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2, Lê Tuấn A và Lê Bá K1 phát biểu quan điểm tranh luận: Viện kiểm sát truy tố các bị cáo P, S, Đ và N2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, truy tố các bị cáo Tuấn A và K1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đề nghị HĐXX xem xét các bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng các quy định của pháp luật, để xử phạt các bị cáo như sau:
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo P và bị cáo S mức án 19 tháng tù cho hưởng án treo.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đ và bị cáo N2 mức án 18 tháng tù cho hưởng án treo.
    • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51 (áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 đối với bị cáo Tuấn A), Điều 36, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tuấn A và bị cáo K1 mức án 6 đến 9 tháng cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
  • - Đại diện Trường THPT Y 1 phát biểu: Bị cáo Lê Văn N2 trong quá trình học tập tại trường không vi phạm nội quy, quy chế của nhà trường, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N2 để tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục học tập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tội danh:

Thông qua tranh tụng tại phiên toà, các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2, Phạm Trọng T1, Lê Tuấn A và Lê Bá K1 hoàn toàn thừa nhận:

Khoảng 21 giờ ngày 11/7/2024, cho rằng anh Hoàng Duy T4 cố tình ném khúc mía vào người Lê Đắc Thành Đ và Phạm Hùng S mà Lê Xuân P, Lê Đắc Thành Đ, Phạm Hùng S, Lê Văn N2, Phạm Trọng T1, Lê Tuấn A và Lê Bá K1 đã có hành vi lùa đuổi, dùng tay chân và các hung khí nguy hiểm như vỏ bao kiếm, cán cờ làm bằng ống nhựa cứng, dây thắt lưng đánh anh Hoàng Duy T4 tại khu vực nhà truyền thống thôn B, xã Y, huyện Y, gây tổn thương cơ thể cho anh T4 02%. Sự việc kéo dài khoảng hơn 10 phút, xảy ra tại nhà truyền thống thôn B, xã Y, huyện Y nơi đang có hoạt động tập thiếu nhi, tập trung đông người, làm đình trệ hoạt động tại đây, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Ngoài ra, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 18/5/2024, Lê Xuân P và Phạm Hùng S còn có hành vi cùng với nhiều đối tượng khác thuộc hai nhóm thanh niên thị trấn Q và xã Y đã có hành vi đi xe mô tô lùa đuổi đánh nhau, ném vỏ chai bia vào nhau, sử dụng các hung khí nguy hiểm như bắn súng hơi tự chế đe doạ nhau và dùng dao tự chế chém vào nhau gây thương tích trên đoạn đường từ thị trấn Q, đi xã Đ rồi lên xã Y, trên dọc đường Q.

Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. HĐXX xét thấy có đủ căn cứ chứng minh các bị cáo đã có hành vi đánh nhau tại khu vực công cộng, gây mất trật tự công cộng. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2 và Phạm Trọng T1 sử dụng hung khí nguy hiểm để thực hiện hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết định khung hình phạt theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lê Tuấn A và Lê Bá K1 chỉ dùng tay chân thực hiện hành vi phạm tội nên phạm tội theo khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố các bị cáo theo tội danh trên, đề nghị HĐXX áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, quan hệ pháp luật xâm phạm, tính chất của đồng phạm và vai trò của các bị cáo.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, gây mất trất tự trị an xã hội, mất trật tự nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trên địa bàn và gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng nhân dân và xâm hại đến sức khỏe của người khác là những khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi phạm tội của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật để răn đe và phòng ngừa chung.

Đây là vụ án hình sự có đồng phạm. Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách bột phát, không có sự bàn bạc, phân công nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó: P, S, Đ và N2 đánh anh T4 trước, dùng hung khí nguy hiểm đánh anh T4, tích cực thực hiện tội phạm nên có vai trò thứ nhất; T1 dùng hung khí đánh anh T4 nhưng tham gia sau nên có vai trò thứ hai; Tuấn A và K1 chỉ dùng tay, chân đánh anh T4 nên có vai trò thứ ba. P và S chịu trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi gây rối trật tự công cộng ngày 18/5/2024.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Xuân P và Phạm Hùng S phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo và đã tự nguyện bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho anh Hoàng Duy T4 nên đều được hưởng các tình tiêt giảm nhẹ “Người phạm tội đã tự nguyện bồi thường thiệt hại” và “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Lê Tuấn A và Lê Bá K1 được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo Phạm Hùng S, Lê Xuân P, Lê Đắc Thành Đ đầu thú, Lê Xuân P, Lê Văn N2 và Lê Tuấn A có ông bà là người có công với cách mạng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Tuấn A, Lê Văn N2 và Lê Bá K1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại chương XII Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, HĐXX xét thấy:

Các bị cáo Lê Xuân P và Phạm Hùng S phạm tội 02 lần đều thuộc trường hợp nghiêm trọng, nên phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để trừng trị, giáo dục các bị cáo thành công dân có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cần xem xét các bị cáo P và S phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế và có nhiều tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2, Phạm Trọng T1, Lê Tuấn A và Lê Bá K1 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho các bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo Đ, N2, Tuấn A và K1 phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly các bị cáo Đ, N2, T1, Tuấn A và K1 để giáo dục mà chỉ cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng: Các vật chứng đã thu giữ gồm 01 khúc mía, 01 cục đá, 01 ống nhựa và 01 chiếc thắt lưng, xét thấy đây là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, các bị cáo và gia đình đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại cho anh Hoàng Duy T4. Anh Tú đã nhận đủ tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy, HĐXX không xem xét giải quyết.

[8] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác có liên quan:

Trong vụ án, Thái Văn Hoàng H2 có hành vi dùng tay đánh anh T4, tuy nhiên H2 chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển Công an huyện Y ra quyết định xử phạt hành chính đối với H2 là đúng quy định.

Anh Hoàng Duy T4 bị thương tích 02%, tuy nhiên anh T4 có đơn đề nghị không khởi tố vụ án hình sự nên không khởi tố các bị cáo về tội Cố ý gây thương tích là đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh:
    • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2 và Phạm Trọng T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 318 Bộ luật Hình sự, tuyên bố các bị cáo Lê Tuấn A và Lê Bá K1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Xuân P 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ tính từ ngày tạm giữ 12/7/2024.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Hùng S 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ tính từ ngày tạm giữ 12/7/2024.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Đắc Thành Đ 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn N2 18 (Mười tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trọng T1 24 (Hai mươi tư) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Tuấn A 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Áp dụng khoản 1 Điều 318, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 65, Điều 17, Điều 58, Điều 91, Điều 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Bá K1 06 (Sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao các bị cáo Lê Đắc Thành Đ và Phạm Trọng T1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao các bị cáo Lê Văn N2 và Lê Tuấn A cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Giao bị cáo Lê Bá K1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:

    • 01 (một) khúc mía màu vàng dài 70cm;
    • 01 (một) cục đá màu xanh, trắng có kích thước 13 x 7 cm;
    • 01 (một) ống nhựa dài 46cm, dạng ống đường kính 2,1 cm đã bị dập nát một đầu; một đầu quấn giấy thiếc màu vàng đỏ.
    • 01 (một) chiếc thắt lưng bằng da, màu đen có tổng chiều dài 109cm, rộng 3,5cm; một đầu có gắn kim loại màu sáng, đã qua sử dụng.

    Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK14 ngày 06/11/2024.

  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Lê Xuân P, Phạm Hùng S, Lê Đắc Thành Đ, Lê Văn N2, Phạm Trọng T1, Lê Tuấn A và Lê Bá K1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo, người đại diện hợp pháp và người bào chữa cho các bị cáo chưa thành niên có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - Công an huyện Yên Định;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - Các bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp;
  • - Người bào chữa;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 28/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về gây rối trật tự công cộng (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xét xử Lê Xuân P và đồng phạm về tội gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger