Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 27 tháng 11 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ảnh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Quý; Ông Huỳnh Thái Việt

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Anh Tài - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Thị L - sinh ngày 01 tháng 3 năm 1982 tại huyện V - tỉnh Khánh Hòa; nơi thường trú: Tổ dân phố số H, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố số B, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T - sinh năm: 1955 và bà Mai Thị Đ - sinh năm 1958; Chồng: Nguyễn Hoàng S - sinh năm: 1980 (đã ly hôn); có 02 (hai) con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2015; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 14/3/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số: 16/2023/HS-ST. Chấp hành xong thời gian thử thách ngày 14/6/2024, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Đ1 – sinh năm: 1971; trú tại: Tổ dân phố số G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 01/10/2024, Nguyễn Thị L đi bộ từ nhà đến chợ T1 tại đường T, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa để mua thực phẩm, khi đi ngang qua quầy bán trứng của bà Nguyễn Thị Đ1, L ngồi lại để lựa mua trứng. Lúc này, L nhìn thấy dưới nền đất gần chỗ bà Đ1 ngồi có để 01 (một) giỏ xách màu hồng (không kéo khóa), L nhìn vào bên trong giỏ xách thì phát hiện bên trong giỏ xách có chứa 01 (một) túi nilon, bên trong túi nilon có chứa số tiền 6.900.000 đồng (sáu triệu chín trăm nghìn đồng). L nảy sinh ý định trộm cắp số tiền này, lợi dụng lúc bà Đ1 không chú ý, L đến gần giỏ xách rồi dùng tay đưa vào bên trong giỏ xách lấy túi nilon có chứa tiền ra ngoài. Sau khi trộm cắp được tài sản, Nguyễn Thị L nhanh chóng đi bộ về lại nhà của mình tại Tổ dân phố số B, thị trấn V, huyện V cất giấu. Nguyễn Thị L đã tiêu xài cá nhân hết số tiền 5.900.000 đồng trộm cắp được.

Sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện, Nguyễn Thị L đã giao nộp cho Công an thị trấn V số tiền 1.000.000 đồng và bồi thường cho bà Nguyễn Thị Đ1 số tiền 5.900.000 đồng.

Về vật chứng: 02 tờ tiền Việt Nam đồng, mỗi tờ có mệnh giá 500.000 đồng (gồm các số sêri: CK 19092042 và XP 18742823), đã trả lại cho chủ sở hữu bà Nguyễn Thị Đ1.

Tại bản Cáo trạng số: 108/CT-VKSVN, ngày 11 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố để xét xử bị cáo Nguyễn Thị L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • + Bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt, cho được hưởng án treo.
  • + Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L từ 06 (sáu) tháng tù đến 09 (chín) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị hại bà Nguyễn Thị Đ1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, không ảnh hưởng đến việc xét xử . Vì vậy, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị L đã khai nhận hành vi của bị cáo như nội dung bản Cáo trạng số 108/CT-VKSVN ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh - tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với các chứng cứ khác đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V thu thập được. Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Khoảng hơn 06 giờ 50 phút ngày 01/10/2024, tại quầy bán trứng tự phát của bà Nguyễn Thị Đ1 trên đường T thuộc tổ dân phố số G, thị trấn V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Nguyễn Thị L đã có hành vi lén lút trộm cắp số tiền 6.900.000 đồng (sáu triệu chín trăm nghìn đồng) của bà Nguyễn Thị Đ1.

Theo quy định về tội “Trộm cắp tài sản” tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì: “1.Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng ......., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm......”

Hành vi trên của bị cáo Nguyễn Thị L đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị L là vi phạm pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bà Nguyễn Thị Đ1 được pháp luật bảo vệ; chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo Nguyễn Thị L đã bất chấp pháp luật, thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản Nguyễn Thị Đ1.

Bị cáo L là người đã bị kết án 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số: 16/2023/HSST ngày 14/3/2023 của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, chấp hành xong thời gian thử thách ngày 14/6/2024, đã đóng án phí hình sự sơ thẩm, chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo đã không lấy đây là bài học sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục phạm tội mới. Do đó, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Điều đó chứng tỏ bị cáo không thật sự tự cải tạo mình để trở thành người công dân tốt. Nên cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, ngăn ngừa những hành vi tương tự.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; phạm tội gây thiệt hại không lớn; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại có đơn xin bãi nại. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành công dân có ích cho xã hội.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Đ1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Căn cứ lời khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, bà Nguyễn Thị Đ1 đã nhận lại số tiền 1.000.000 đồng từ Cơ quan điều tra và số tiền 5.900.000 đồng mà Nguyễn Thị L đã bồi thường, bà Đ1 không còn yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 336; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Nguyễn Thị L.

  • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Nguyễn Thị L với bị hại Nguyễn Thị Đ1.
  • - Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
  • - Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Hồ sơ THA;
  • - Lưu: VT, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Ảnh

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN

Đỗ Ngọc QuýHuỳnh Thái Việt

Nguyễn Ngọc Ảnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ăn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50 của Bộ luật Hình sự; Điều 331; khoản 1 Điều 333; khoản 1 Điều 336; khoản 1 Điều 337 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Nguyễn Thị L. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. - Về trách nhiệm dân sự: Không xét bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Nguyễn Thị L với bị hại Nguyễn Thị Đ1. - Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng). - Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của bị hại (vắng mặt) là 15 ngày, kể từ bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger