Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĂN LÃNG

TỈNH LẠNG SƠN

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày 27-11-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Đình Tư;

Bà Nguyễn Thị Lợi;

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Thanh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên toà: Ông Nông Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 91/2024/HSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nông Văn T; tên gọi khác: Bé; sinh ngày 01 tháng 10 năm 1984 tại tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Nông dân; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn H (đã chết) và bà Hoàng Thị V (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 20/QĐ-TA ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng; nhân thân: Đã bị kết án, đã bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật. Tại Bản án số 78/2021/HS-ST ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 06/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 tháng; bị tạm giữ từ ngày 31/7/2024, tạm giam từ ngày 03/8/2024 đến nay. Có mặt.

- Người làm chứng: Anh Chu Văn A, sinh năm 1984. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nông Quang D, sinh năm 1987. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 31/7/2024, Nông Văn T bắt xe khách đi xuống thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn để mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Khi đến khu vực bãi xe gần đền M, thị trấn Đ, Nông Văn T xuống xe và gặp một người đàn ông khoảng 40 tuổi, làm nghề lái xe ôm (không biết họ tên, địa chỉ) hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy heroine. Người đàn ông đưa cho Nông Văn T 01 túi zip nilon màu trắng, bên trong có 05 gói ma túy. Sau khi mua được ma túy, Nông Văn T bắt xe khách đi về nhà. Về đến nhà, Nông Văn T lấy 01 gói ma túy ra sử dụng bằng hình thức hít, còn 04 gói cất trong túi quần bên phải đằng trước đang mặc trên người và đi bộ ra ngoài cửa nhà, mục đích có người mua sẽ bán với giá 200.000 đồng/01 gói. Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 31/7/2024, tại cửa nhà, Nông Văn T đã bán cho Chu Văn A 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Công an huyện V làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang Nông Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 03 gói ma túy nêu trên và số tiền 200.000 đồng.

Tại Cơ quan điều tra, anh Chu Văn A khai: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, anh được mua với Nông Văn T 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Người chứng kiến anh Nông Quang D khai được chứng kiến Công an huyện V tiến hành các hoạt động tố tụng đúng quy định.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trên. Do nghiện ma túy nên bị cáo đi mua 500.000 đồng ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Số tiền 200.000 đồng bị thu giữ là tiền bán ma túy cho Chu Văn A mà có.

Tại Kết luận giám định số 585/KL-KTHS ngày 03/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Nông Văn T có tổng khối lượng 0,142 gam đều là chất ma tuý heroine.

Tại Kết luận giám định số 984/KL-KTHS ngày 22/9/2024 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Hai tờ tiền Việt Nam loại mệnh giá 100.000 đồng/tờ là tiền thật.

Tại cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 05/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nông Văn T về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, phát biểu quan điểm: Bị cáo có 01 tiền sự, có nhân thân xấu, thành khẩn khai báo. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; xử phạt bị cáo Nông Văn T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung do bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không có tài sản có giá trị. Về vật chứng: Đề nghị tịch thu, tiêu hủy số ma túy thu được sau giám định, tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng do bán ma túy mà có. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nông Văn T thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử, giải quyết vụ án nên căn cứ khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, đủ căn cứ kết luận: Ngày 31/7/2024, Nông Văn T đã có hành vi mua 05 gói ma túy heroine với giá 500.000 đồng để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo đã sử dụng hết 01 gói ma túy, bán cho anh Chu Văn A 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Số ma túy bị cáo bị bắt quả tang là 03 gói ma túy có khối lượng 0,142 gam heroine.[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, là nguyên nhân gián tiếp gây ra các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi và nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên cố ý thực hiện.

[5] Từ những phân tích trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nông Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là có căn cứ.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo được hưởng sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

[7] Về nhân thân: Bị cáo đã kết án, chưa bị xử lý kỷ luật, đã bị xử lý vi phạm hành chính. Tại Bản án số 78/2021/HS-ST ngày 17/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 01 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, đã được xóa án tích theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự. Tại Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn số 06/QĐ-UBND ngày 30/3/2017 của Ủy ban nhân dân xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 tháng, đã đủ thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Tại Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 20/QĐ-TA ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 18 tháng, đã có Quyết định truy tìm số 03/QĐ-CAHVL ngày 04/10/2017 của Công an huyện V nhưng bị cáo chưa thi hành nên được tính là chưa hết thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 6 và Điều 7 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Do đó, đánh giá bị cáo có nhân thân xấu.

[8] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo đã từng 02 lần bị xử lý vi phạm hành chính, 01 lần bị kết án về hành vi vi phạm liên quan đến ma túy nhưng vẫn tiếp tục phạm tội về ma túy. Do vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, không sở hữu tài sản có giá trị. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[10] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Nông Văn T do không xác định được tên, địa chỉ và hành vi mua ma túy để sử dụng của anh Chu Văn A không cấu thành tội phạm nên không xử lý trong vụ án này.

[11] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Chất ma túy còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng là tiền bị cáo có được do bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[12] Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[13] Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[14] Xét các ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm a, b, c khoản 1 Điều 47; Điều 50; điểm b khoản 2 Điều 70 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 293; khoản 1 Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 6 và Điều 7 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh

Tuyên bố bị cáo Nông Văn T phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

2. Về hình phạt

Xử phạt bị cáo Nông Văn T 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 31/7/2024).

3. Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp

3.1. Tịch thu tiêu hủy

01 (một) phong bì có chữ “QT Nông Văn T” (cũ), đã qua giám định. Bên trong có: 01 (một) gói giấy đựng tổng 0,116 gam chất ma túy heroine và toàn bộ các vỏ bao gói (cũ);

(Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05/11/2024 giữa Cán bộ điều tra thuộc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn).

3.2. Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng hiện đang được lưu giữ tại tài khoản số 8407203000013 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn tại Ngân hàng N theo Lệnh thanh toán ngày 05/11/2024, số tham chiếu 2420410305324173.

4. Án phí: Bị cáo Nông Văn T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/11/2024).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND tỉnh Lạng Sơn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lạng Sơn;
  • - VKSND huyện Văn Lãng;
  • - CQĐT Công an huyện Văn Lãng;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Văn Lãng;
  • - Chi cục THADS huyện Văn Lãng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: Hồ sơ, HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN về hình sự sơ thẩm (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĂN LÃNG, TỈNH LẠNG SƠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 31/7/2024, Nông Văn T đã có hành vi mua 05 gói ma túy heroine với giá 500.000 đồng để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo đã sử dụng hết 01 gói ma túy, bán cho anh Chu Văn A 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng. Số ma túy bị cáo bị bắt quả tang là 03 gói ma túy có khối lượng 0,142 gam heroine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger