Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 26/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngọc Thu.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Phú Hải;

- Ông Trịnh Minh Tường.

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hào - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Thanh P; sinh năm: 1996; tại tỉnh Tây Ninh; giới tính: Nam; nơi cư trú: Ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Không có; trình độ học vấn: 7/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn P1 và bà Phan Tuyết L; vợ Nguyễn Thị H, sinh năm 1998; con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; nhân thân: Quyết định số 51/QĐ-TA ngày 13-11-2017, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, thời gian 15 tháng kể từ ngày 14-10-2017; Quyết định số 07/QĐ-TA ngày 20-11-2019, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, thời gian 24 tháng kể từ ngày 14-10-2017; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024, đến ngày 21/6/2024 chuyển tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thanh P là người nghiện ma túy. P nhiều lần đến khu vực ngã tư xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh gặp người tên Đ (không rõ họ tên, địa chỉ) mua ma túy mỗi lần từ 1.500.000 đồng đến 2.000.000 đồng bán cho nhiều người để kiếm lời, tiêu xài cá nhân và mua ma túy sử dụng.

Vào ngày 04/6/2024, P mua ma túy của người tên Đ với số tiền 1.500.000 đồng. Sau khi mua ma túy, P mang về nơi ở của mình ở ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh phân nhỏ ma túy thành nhiều bịch sau đó cất giấu để bán cho nhiều người. Cụ thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào ngày 12/6/2024, Nguyễn Văn N, sinh ngày 01/01/1997, ngụ khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh hùn với Lê Văn M, sinh ngày 14/7/2021, ngụ ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh mỗi người hùn số tiền 400.000 đồng, N gọi điện thoại cho P hỏi mua ma túy với số tiền 800.000 đồng thì P đồng ý và kêu N đến nhà P lấy ma túy. Sau đó, N cùng với M đến nhà P mua ma túy. Tại đây, P bán 01 bịch ma túy cho N và M với số tiền 800.000 đồng.

- Lần 2: Vào ngày 12/6/2024, P bán ma túy cho Phan Thanh T, sinh năm 1991, nơi cư trú ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh với số tiền 200.000 đồng tại nhà của P.

- Lần 3: Vào ngày 13/6/2024, P bán ma túy cho người tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 500.000 đồng tại khu vực ngã ba Chợ cũ huyện T, tỉnh Tây Ninh.

- Lần 4: Vào ngày 13/6/2024, Nguyễn Văn N và Lê Văn M tiếp tục hùn mỗi người số tiền 250.000 đồng để mua ma túy của P. N gọi điện thoại cho P mua ma túy với số tiền 500.000 đồng. Sau đó, N đi cùng M đến nhà P để mua ma túy. Tại đây, P bán 01 bịch ma túy cho N và M với số tiền 500.000 đồng.

- Lần 5: Vào ngày 13/6/2024, P tiếp tục bán ma túy cho người tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 500.000 đồng tại khu vực ngã ba Chợ cũ huyện T, tỉnh Tây Ninh.

- Lần 6: Vào ngày 14/6/2024, Nguyễn Văn N hùn với Lê Văn M mỗi người số tiền 250.000 đồng mua ma túy của P với số tiền 500.000 đồng thì bị Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Lê Thanh P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Kết quả trưng cầu giám định:

Tại Bản Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS, ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:

- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,0508 gam.

- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) bên trong 03 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,3785 gam.

- Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M3) bên trong 01 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,7273 gam.

-Mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M4) bên trong 02 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,2383 gam.

- Dụng cụ sử dụng ma túy (ký hiệu B4) gửi đến giám định có tìm thấy chất ma túy; loại Methamphetamine; không xác định khối lượng vì mẫu dạng vi vết.

Tại Bản Kết luận giám định số 1213/KL-KTHS, ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: 03 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 500.000 đồng; 04 tờ tiền Việt Nam đồng (Polyme, giá 200.000 đồng, 02 tờ tiền Việt Nam đồng (P) mệnh giá 100.000 đồng cần giám định là tiền thật.

Tại Bản Kết luận giám định số 4195/KL-KTHS, ngày 16/7/2024 của Phân Viện khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Khẩu súng ổ quay gửi giám định là vũ khí được chế tạo thủ công để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm. Hiện tại, súng bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.

Kê biên tài sản: Lê Thanh P không có tài sản nên Cơ quan điều tra không kê biên.

Tại bản Cáo trạng số 82/CT-VKSTC, ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh truy tố bị cáo Lê Thanh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Lê Thanh P đã khai nhận hành vi phạm tội của mình, vật chứng bị thu giữ như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Thanh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lê Thanh P từ 8 đến 9 năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý theo quy định;

- Về án phí: Bị cáo Lê Thanh P phải chịu theo quy định.

Bị cáo Lê Thanh P không trình bày lời bào chữa.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Thanh P đã biết lỗi, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về hòa nhập với cộng đồng, lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo P thể hiện: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo P khai nhận: P đã thực hiện hành vi bán ma túy loại Methamphetamine tổng cộng 06 lần, trong đó có 03 lần mỗi lần bán cho 02 người như sau: Lần thứ nhất vào ngày 12/6/2024, P bán ma túy cho N và M với số tiền 800.000 đồng; lần 2 vào ngày 12/6/2024, P bán ma túy cho T, với số tiền 200.000 đồng; lần 3 vào ngày 13/6/2024, P bán ma túy cho T1 với số tiền 500.000 đồng; lần 4 vào ngày 13/6/2024, P bán ma túy cho N và M với số tiền 500.000 đồng; lần 5 vào ngày 13/6/2024, P bán ma túy cho T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 500.000 đồng; lần 6 vào ngày 14/6/2024, P bán ma túy cho N và M với số tiền 500.000 đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Tại Bản kết luận giám định số 1202/KL-KTHS, ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu chất tỉnh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0508 gam; mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M2) bên trong 03 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,3785 gam; mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M3) bên trong 01 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,7273 gam; mẫu chất tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M4) bên trong 02 bịch nylon hàn kín, gửi đến giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,2383 gam. Do đó, hành vi của bị cáo P đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ.

[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo P là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương, bị cáo biết rõ hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” là vi phạm pháp luật nhưng vì nhu cầu bản thân nên bị cáo P cố tình mua bán trái phép chất ma tuý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra.

[4] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt mức hình phạt tù và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đồng thời mới có tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo P do bị cáo không có tài sản.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- 01 (một) bì thư niêm phong, bên trong chứa tiền Việt Nam: 2.500.000 đồng là tiền mua bán ma túy mà có nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số imel 868374063427418, gắn sim số 0972574774 và số 0373745882, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng là dụng cụ để thực hiện mua bán trái phép chất ma túy còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

- 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1202/M2, bên trong chứa 0,3502 gam chất ma túy loại Methamphetamine; 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1202/M3, bên trong chứa 0,6726 gam chất ma túy loại Methamphetamine; 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1202/M4, bên trong chứa 0,2072 gam chất ma túy loại Methamphetamine; 01 (một) bị thư niêm phong ghi số 1202/B4, bên trong chứa 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng gồm 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa màu đỏ, được gắn vào nắp chai nhựa màu vàng, bình dạng nhựa trong suốt có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định khối lượng vì mẫu ở dạng vi vết là hàng cấm nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 02 (hai) kéo kim loại; 02 (hai) hộp quẹt ga, 01 cân tiều ly là dụng cụ để thực hiện tội phạm không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với người tên “Đen” là người bán ma túy cho Lê Thanh P không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ để làm rõ xử lý, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.

Đối với Phan Thanh T là người mua ma túy của bị cáo P. Quá trình điều tra, Phan Thanh T không có mặt tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra. Công an huyện T chuyển thông tin đến Công an xã T, huyện T làm rõ, nếu có vi phạm thì xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với người tên T1 là người mua ma túy của bị cáo P. Hiện không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh chuyển thông tin đến Công an thị trấn T, huyện T làm rõ, nếu có vi phạm thì xử lý theo quy định pháp luật.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn N, Lê Văn M và Lê Thanh P, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đã chuyển hồ sơ, tài liệu đến Công an xã M, huyện T, tỉnh Tây Ninh xử lý hành chính theo quy định.

Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” của Lê Thanh P, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh đã chuyển tin báo đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh T xử lý theo thẩm quyền.

[8] Về án phí: Bị cáo Lê Thanh P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Thanh P 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 01 năm 06 tháng tù của Bản án Hình sự sơ thẩm số 86/2024/HSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 14/06/2024.

4/ Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một bì thư niêm phong, bên trong chứa tiền Việt Nam: 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng, kèm theo Kết luận giám định số 1213/KL-KTHS và bảng thống kê số sêri từng mệnh giá tiền giám định ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (bản sao y) tình trạng niêm phong còn nguyên vẹn, 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số imel 868374063427418, gắn sim số 0972574774 và số 0373745882, bị vỡ màn hình, đã qua sử dụng.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1202/M2, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1 và trợ lý giám định Nguyễn Văn Q và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa 0,3502gam (không phẩy ba năm không hai gam) chất ma túy, loại Methamphetamine, theo Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;

01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1202/M3, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1 và trợ lý giám định Nguyễn Văn Q và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa 0,6726 gam (không phẩy sáu bảy hai sáu gam) chất ma túy, loại Methamphetamine, theo Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;

01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1202/M4, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1 và trợ lý giám định Nguyễn Văn Q và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa 0,2072 gam (không phẩy hai không bảy hai gam) chất ma túy, loại Methamphetamine, theo Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;

01 (một) bì thư niêm phong ghi số 1202/B4, có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn N1 và trợ lý giám định Nguyễn Văn Q và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong chứa 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng gồm 01 (một) ống thủy tinh và 01 (một) ống nhựa màu đỏ, được gắn vào nắp chai nhựa màu vàng, bình dạng nhựa trong suốt có tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định khối lượng vì mẫu ở dạng vi vết, theo Kết luận giám định số 1202/KL-KTHS ngày 20/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T;

02 (hai) kéo kim loại; 02 (hai) hộp quẹt ga; 01 (một) cân tiểu ly.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng với Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh ngày 18-10-204 và ngày 14-11-2024)

5/ Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Lê Thanh P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

6/ Quyền kháng cáo: Bị cáo Lê Thanh P biết được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Biên;
  • - THA phạt tù;
  • - Công an tỉnh Tây Ninh - Phòng PV27;
  • - CQĐT Công an huyện Tân Biên;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu tập án, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Ngọc Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh P Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger