Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Ý YÊN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 22-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Tiến Mãn.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Định; Ông Bùi Quang Khảnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Hoàng Dũng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Bùi Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/TLST-HS, ngày 05 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 92/2024/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn H - Sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn A, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Thợ sửa chữa xe ô tô; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T và bà Trần Thị H1; vợ Bùi Thị Thùy L và 04 con; tiền án, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị hại: Anh Tăng Văn T1 - Sinh năm 1982.

Địa chỉ: Thôn T, xã G, TP H, tỉnh Hải Dương.

Người làm chứng: Anh Lê Huy T2, anh Lương Văn T3, anh Nguyễn Châu L1, anh Nguyễn Minh T4, anh Nguyễn Xuân H2, anh Ngô Quang K.

Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 21/10/2023, anh Lê Huy T2 sinh năm 1984 trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình mượn xe ô tô Huyndai Santafe, BKS: 34A - 156.89 của anh Tăng Văn T1, sinh năm 1982 trú tại thôn T, xã G, thành phố H, tỉnh Hải Dương để đi từ thành phố H về nhà ở Ninh Bình. Xe di chuyển trên đường C - Cao Bồ đến Km 250 đoạn thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định thì bị hư hỏng. Anh T2 liên lạc đến số điện thoại của cửa hàng sửa chữa ô tô Hoàn Tới có địa chỉ tại thôn A, xã Y, huyện Ý. Sau đó, Phạm Văn H (là thợ sửa chữa xe của cửa hàng ô tô H Tới) đến gặp anh T2 và tiến hành kiểm tra tình trạng xe ô tô BKS: 34A - 156.89. H mở nắp capo đứng phía ngoài xe, yêu cầu anh T2 thử đề nổ máy song không được nên H lên cabin, ngồi vị trí ghế lái cắm máy đọc để kiểm tra lỗi. Lúc này, máy đọc không phát hiện lỗi của xe ô tô nên H xuống xe để thử quay nổ máy và xác định xe ô tô BKS: 34A - 156.89 bị lỗi bó máy. H thông báo lỗi cho anh T2, anh T2 hỏi chi phí sửa chữa nên H đề nghị anh T2 cho H xem giấy tờ xe, xác định năm xuất xưởng để ước chừng chi phí sửa chữa. Anh T2 mở bệ tỳ tay lấy giấy tờ xe cho H xem, H liên lạc kiểm tra chi phí sửa chữa thì anh T2 hỏi mượn xe mô tô của H để đi mua thuốc lá, H đồng ý và giao xe cho anh T2. Sau đó, H ngồi trên ghế lái, mở cửa bệ tỳ tay trên xe ô tô lấy giấy tờ xe để xem lại thì phát hiện bên trong có một chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Longines Heritage 1986 (nhưng không lấy xem, không kiểm tra chiếc đồng hồ này). Sau khi xem giấy tờ xe xong, H để giấy tờ xe vào vị trí như ban đầu. Khi anh T2 quay lại, H trao đổi về việc cần đưa xe ô tô về cửa hàng để tiến hành sửa chữa. Anh T2 gọi điện thoại thông báo cho anh T1, anh T1 bảo anh T2 đưa xe ô tô BKS: 34A - 156.89 về xưởng dịch vụ H3 có địa chỉ tại: Khu công nghiệp G, huyện G, tỉnh Ninh Bình để sửa chữa. Anh T2 trao đổi lại với H và nhờ H gọi giúp xe cứu hộ. H đồng ý, gọi xe cứu hộ rồi thu dọn đồ sửa chữa trên xe ô tô để đi về. Khi thu dọn đồ sửa chữa trên xe, lợi dụng anh T2 không chú ý H mở bệ tỳ tay trên xe ô tô, lấy chiếc đồng hồ đeo tay bỏ vào túi quần rồi đi về. Sau đó, anh T2 đưa xe ô tô BKS 34A - 156.89 đến xưởng dịch vụ H4 để sửa chữa rồi về nhà. Khi về cửa hàng sửa chữa xe ô tô, Hoàn kiểm tra chiếc đồng hồ vừa trộm cắp được thì thấy mặt sau đồng hồ có in dòng chữ “Longines Heritage 1968” và cất giấu chiếc đồng hồ ở phòng để đồ trong cửa hàng.

Do H có quen biết anh Lương Văn T3 sinh năm 1982 trú tại số A T, xã L, thành phố N là người buôn bán đồng hồ cũ nên tối 21/10/2023 H chụp ảnh đồng hồ, nhắn tin nói chuyện với anh T3 là chiếc đồng hồ đó của một người anh của H muốn

bán lại nên nhờ anh T3 kiểm tra để định giá giúp. Ngày 23/10/2023, H mang chiếc đồng hồ đến nhà anh T3 để anh T3 xem tình trạng chiếc đồng hồ. Sau đó, anh T3 thỏa thuận mua lại chiếc đồng hồ đó của H với giá 25.000.000 đồng. Anh T3 đưa cho H 4.000.000 đồng tiền mặt và chuyền số tiền 21.000.000 đồng từ tài khoản Ngân hàng V số 0831000019391 của anh T3 đến tài khoản ngân hàng M số 7770123326666 của H. Sau khi mua được chiếc đồng hồ từ H, anh T3 nhờ bạn là Nguyễn Châu L1 sinh năm 1984 trú tại số I, đường T, Phường Q, thành phố N nhận chiếc đồng hồ là của mình để anh T3 liên hệ bán lại cho Nguyễn Minh T4 sinh năm 1990 chỗ ở tại chung cư M, số B, L, Phường N, quận L, thành phố Hà Nội với giá 46.000.000 đồng. Anh Tú mua chiếc đồng hồ rồi mang về làm sạch, đánh bóng và đăng bán trên trang mạng xã hội. Sau đó, anh Nguyễn Xuân H2 sinh năm 1996 chỗ ở tại tòa nhà T, Chung cư T, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội (là bạn của anh T4) mượn chiếc đồng hồ nêu trên của anh T4 để đăng bán trên trang mạng xã hội. Tiếp đó, anh Ngô Quang K sinh năm 1993 trú tại tòa nhà T, Chung cư T, xã A, huyện H, thành phố Hà Nội (là bạn của anh H2) mượn lại chiếc đồng hồ từ anh H2 để chụp ảnh, đăng bài bán chiếc đồng hồ trên trang mạng xã hội của K.

Ngày 23/10/2023, anh T2 đến nhà anh T1 chơi, nói chuyện thì anh T1 nhớ ra việc mình để chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968 trong bệ tỳ tay trên xe ô tô BKS: 34A - 156.89 nên anh T2 và anh T1 cùng đến xưởng dịch vụ H3 kiểm tra thì không thấy chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968.

Ngày 28/12/2023, anh T1 thấy bài đăng trên ứng dụng Facebook bán một chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968 có đặc điểm giống với chiếc đồng hồ của anh T1 bị mất trộm nên liên lạc hỏi mua. Sau khi kiểm tra, anh T1 xác định chiếc đồng hồ đó chính là đồng hồ của anh bị mất trộm nên trình báo với Công an phường M, quận N, thành phố Hà Nội. Công an phường M, quận N tiến hành làm việc với anh Ngô Quang K và tạm giữ chiếc đồng hồ nêu trên.

Do nghi ngờ Phạm Văn H là người đã lấy trộm chiếc đồng hồ nêu trên trong quá trình kiểm tra xe ô tô BKS: 34A - 156.89 khi xe ô tô bị hư hỏng tại vị trí K đường C - Cao Bồ đoạn thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định nên anh T1 đã làm đơn tố giác về tội phạm gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý. Công an phường M, quận N, thành phố Hà Nội đã chuyển hồ sơ, tài liệu cùng chiếc đồng hồ trên cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý giải quyết theo thẩm quyền.

Tại kết luận định giá tài sản số 29/ĐGTS, ngày 18/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Ý kết luận: Giá trị 01 chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968, Model L2.792.8.71.0, số seri 41242996 là 64.000.000đ.

Vật chứng thu giữ: Thu giữ 01 chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968, số seri 41242996, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Tăng Văn T1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý đã trả lại cho chủ sở hữu. Anh T1 đã nhận lại chiếc đồng hồ trên, không có yêu cầu đề nghị gì khác.

Về trách nhiệm dân sự: Phạm Văn H tự nguyện giao nộp số tiền 25.000.000₫ là tiền mà H bán chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968 cho anh Lương Văn T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý đã trả lại cho anh T3, anh T3 đã nhận đủ sổ tiền trên và không đề nghị gì khác.

Anh Lương Văn T3 và anh Nguyễn Minh T4 đã tự nguyện thỏa thuận, anh T3 hoàn trả số tiền 46.000.000đ cho anh T4, anh T4 đã nhận đủ số tiền trên và không đề nghị gì khác.

Đối với anh Lương Văn T3, anh Nguyễn Châu L1, anh Nguyễn Minh T4, anh Nguyễn Xuân H2, anh Ngô Quang K là những người đã mua, bán giao dịch chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968, số seri 41242996 nhưng không biết chiếc đồng hồ do H trộm cắp mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý không xem xét trách nhiệm hình sự đối với các anh T3, L1, T4, H2, K.

Bản Cáo trạng số 89/CT-VKS-YY, ngày 04/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố Phạm Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà: Phạm Văn H khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng số 89/CT-VKS-YY, ngày 04/11/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn H từ 24 tháng đền 27 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Đã được giải quyết xong tại quá trình điều tra, nên đề nghị không xem xét giải quyết.

Bị cáo nói lời sau cùng, thừa nhận hành vi của mình bị truy tố về tội trộm cắp tài sản là đúng, không oan sai, bị cáo ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Ý, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, thời gian, địa điểm, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ để xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 21/10/2023, tại km B đường C - C thuộc địa phận xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định. Lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, bị cáo Phạm Văn H đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản là chiếc đồng hồ Longines Heritage 1968, Model L2.792.8.71.0, số seri 41242996 để trong bệ tỳ tay xe ô tô Huyndai Santafe BKS 34A - 156.89 của anh Tăng Văn T1 có giá trị là 64.000.000₫.

[3] Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi trộm cắp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có tổng trị giá là 64.000.000 đồng. Do vậy hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố là đúng pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bồi hoàn lại số tiền 25.000.000đ cho

anh T3; bị cáo là lao động chính trong gia đình và đang phải nuôi dưỡng 04 con nhỏ là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

[5] Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, đang phải nuôi dưỡng con nhỏ; vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đảm bảo việc cải tạo, giáo dục bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập không ổn định và đang phải nuôi con nhỏ; vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu gì thêm, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự; tuyên bố bị cáo Phạm Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Văn H 24 (hai mươi bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22/11/2024).

    Giao bị cáo Phạm Văn H cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Tiến Mãn

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh, huyện;
  • - Công an huyện Ý Yên;
  • - Phòng PV27 CA tỉnh Nam Định;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự;
  • - UBND Yên Bình;
  • - Lưu HS, VP.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger