|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/ HSST Ngày: 15-11-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Tăng Tài Thủ
- Bà Thái Ánh Trinh.
Thư ký phiên toà: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Toà án nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - Thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà:Bà Lê Thị Kim Xa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 84/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Hoàng T, sinh năm 1988; Nơi đăng ký thường trú: khu vực T, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1962 (đã chết) và bà Võ Thị L, sinh năm 1963; Vợ là bà Bùi Thanh T1, sinh năm 1990; Con: có 02 người (lớn - sinh năm 2008; nhỏ - sinh năm 2018); Tiền án: 01 lần. Vào ngày 29/9/2021, Toà án Nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xử phạt 02 năm 06 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/4/2023; Tiền sự: 01 lần: Vào ngày 02/4/2024, Công an phường T, quận T, thành phố Cần Thơ xử phạt số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa nộp phạt; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/7/2024 cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an quận T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh Văn T2, sinh năm 1985. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Minh T3, sinh năm 1985. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Có mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Lê Tấn L1, sinh năm 1975. Địa chỉ: Ấp P, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
- Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ ngày 24/7/2024, Nguyễn Thị N điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 68KA – 097.55 từ nhà thuộc ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang đến khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ để đi đám tang. Do nơi tổ chức đám tang không có nơi đậu xe nên bà N đậu xe mô tô trước kho trống và đi vào đám. Lúc này, Nguyễn Hoàng T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684 đi ngang phát hiện xe mô tô của bà N đậu trước kho không ai trông coi trên ổ khóa xe mô tô có gắn sẵn chìa khóa xe nên T nảy sinh ý định trộm xe mô tô biển kiểm soát 68KA-097.55 của bà N; Tín điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684 đến gửi bên hông nhà của Nguyễn Thị Thúy D. Sau đó, T đi bộ đến kho đang đậu xe mô tô của bà N dẫn xe mô tô biển kiểm soát 68KA-097.55 ra khỏi kho và khởi động máy chạy về nhà của ông Lê Tấn L1 tại xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ gửi. Tại đây, T mở cốp xe mô tô của N lấy 01 giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thị N, một căn cước công dân tên Huỳnh Văn T2 cho vào túi quần, còn 01 giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 86KA – 097.55 Tín để lại trong cốp xe mô tô biển kiểm soát 86KA – 097.55 và nhờ Phạm Văn Đ chở T quay lại khu vực P, phường T để lấy xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684 trả công cho Đ 100.000 đồng, Đ đồng ý. Khi T và Đ đến nơi thì bị Công an mời làm việc. Qua làm việc T thừa nhận hành vi phạm tội.
Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường thu giữ 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684 và tạm giữ 01 (một) xe mô tô biến số 68KA-097.55, 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 68KA-097.55, 01 (một) căn cước công dân tên Huỳnh Văn T2, 01 (một) giấy chứng minh nhân dân tên Nguyễn Thị N, 01 (một) nón kiểu lưỡi trai màu đen trên phần lưỡi trai có chữ Columbia màu trắng, 01 (một) nón bảo hiểm kiểu lưỡi trai màu đen trên nón có chữ adidass màu trắng, 01 (một) cái áo thun tay dài màu trắng đen trên áo có chữ Puma màu đen, 01 (một) cái quần dài, chất liệu jean màu đen, trên quần có chữ Viettolons màu trắng. (Bút lục 34, 36 và Bút lục 51 đến 53).
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 47/BKL-HĐĐGTS ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân quận T, kết luận: 01 (một) xe mô tô biển số 68KA-097.55, nhãn hiệu Honda, số loại Future FI, màu sơn trắng đen, số máy JC98E0037051, số khung RLHJC767XRY031327, xe đã qua sử dụng, trị giá 28.000.000đ (Hai mươi tám triệu đồng). (Bút lục 41 - 42)
Quá trình điều tra, Nguyễn Hoàng T, Nguyễn Thị N thống nhất kết luận định giá tài sản nêu trên và không có ý kiến hay yêu cầu gì khác.
Về trách nhiệm dân sự: Bà N không yêu cầu T bồi thường về dân sự.
Về vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T tiến hành tạm giữ theo quy định. Đồng thời, ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu ông Huỳnh Văn T2 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu trắng đen, gắn biển số 68KA-097.55, 01 (một) căn cước công dân tên Huỳnh Văn T2 và 01 (một) giấy đăng ký xe máy biển số 68KA-097.55; Trả cho bà Nguyễn Thị N 01 (một) chứng minh nhân dân; Trả lại cho Nguyễn Minh T3 (anh ruột T) 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng; 01 (một) nón kiểu lưỡi trai màu đen trên phần lưỡi trai có chữ Columbia màu trắng, 01 (một) nón bảo hiểm kiểu lưỡi trai màu đen trên nón có chữ adidass màu trắng, 01 (một) cái áo thun tay dài màu trắng đen trên áo có chữ Puma màu đen, 01 (một) cái quần dài, chất liệu jean màu đen, trên quần có chữ Viettolons màu trắng (Bút lục 46 và 47).
Đối với ông Lê Tấn L1, ông Phạm Văn Đ do không biết việc T lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 68KA-097.55 và việc Nguyễn Hoàng T lấy xe mô tô 01 xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684 của ông Nguyễn Minh T3 do ông T3 không biết T dùng phương tiện để phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý.
Tại Cáo trạng số 97/CT-VKSTN ngày 16 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố Nguyễn Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, thống nhất nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không có ý kiến gì khác.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm, đồng thời phát biểu quan điểm luận tội, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1Điều 51; Điểm h khoản 1Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng T mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Hình phạt bổ sung: do bị cáo không có thu nhập ổn định nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không đề cập giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Trong điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu ông Huỳnh Văn T2 01 (một) xe máy nhãn hiệu Honda, số loại Future, màu trắng đen, gắn biển số 68KA-097.55, 01 (một) căn cước công dân tên Huỳnh Văn T2 và 01 (một) giấy đăng ký xe máy biển số 68KA-097.55; Trả lại cho bà Nguyễn Thị N 01 (một) chứng minh nhân dân; Trả lại cho Nguyễn Minh T3 (anh ruột Nguyễn Hoàng T) 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684, màu xanh, tình trạng đã qua sử dụng, 01 (một) nón kiểu lưỡi trai màu đen trên phần lưỡi trai có chữ Columbia màu trắng, 01 (một) nón bảo hiểm kiểu lưỡi trai màu đen trên nón có chữ adidass màu trắng, 01 (một) cái áo thun tay dài màu trắng đen trên áo có chữ Puma màu đen, 01 (một) cái quần dài, chất liệu jean màu đen, trên quần có chữ Viettolons màu trắnglà phù hợp nên không đề cập giải quyết.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Huỳnh Văn T2 và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, trong điều tra đã thu thập được lời khai của những người vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai của những người vắng mặt tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của những người vắng mặt nêu trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
[3] Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ như: Các biên bản về hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và thu giữ vật chứng, kết luận định giá tài sản... Như vậy, có cơ sở để xác định vào ngày 24/7/2024, tại khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, bị cáo Nguyễn Hoàng T đã có hành vi lén lút lợi dụng lúc bị hại Nguyễn Thị N không trông coi tài sản, bị cáo đã lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô biển kiểm soát 68KA-097.55, nhãn hiệu Honda, số loại Future FI, màu sơn trắng đen của bà N với trị giá qua định giá là 28.000.000₫ (Hai mươi tám triệu đồng), sau đó bị cáo mang xe đến nhà ông Lê Tấn L1 cất giữ để tìm chỗ tiêu thụ. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không chịu khó chuyên tâm lao động chân chính để tạo thu nhập phát triển kinh tế của bản thân, gia đình và xã hội, lại tiêm nhiễm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập, để mong muốn có tiền để tiêu xài mà không phải tốn công sức lao động chính đáng nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác để phục vụ nhu cầu tiêu xài của bản thân. Hành vi bị cáo thực hiện đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền án chưa được xóa án tích và 01 tiền sự đến nay chưa hết thời hạn được xem là chưa có tiền sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về tội Trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội với lỗi cố ý nên bị cáo phải gánh chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là phù hợp.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi lượng hình Hội đồng xét xử có xem xét đến thái độ khai báo của bị cáo trong điều tra và tại phiên tòa có thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị áo để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo tốt.
[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Các vấn đề khác: Đối với ông Lê Tấn L1, ông Phạm Văn Đ do không biết việc Nguyễn Hoàng T lấy trộm xe mô tô biển kiểm soát 68KA-097.55 và việc Nguyễn Hoàng T lấy xe mô tô 01 xe mô tô biển kiểm soát 65F1-8684 của ông Nguyễn Minh T3 do ông T3 không biết T dùng phương tiện để phạm tội nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.
[12] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
*Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/7/2024.
Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
*Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.
*Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo, bị hại có mặt biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
*Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Mộng Tuyền |
Bản án số 96/2024/HSST ngày 15/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 96/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. *Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Hình phạt chính: Xử phạt Nguyễn Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 24/7/2024. Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo.
