TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T O THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HS-ST | |
Ngày: 30/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nguyệt và ông Lưu Bá Ngọc
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện T O
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T O tham gia phiên tòa: Ông Mai Lương S - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại điểm cầu trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội và điểm cầu Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội; Tòa án nhân dân huyện T O, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm, trực tuyến, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 16/10/2024; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2024/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn S; Tên gọi khác: Không; Giới tính: N; Sinh ngày 20 tháng 9 năm 1999 tại: T O, Hà Nội; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: thôn Hoàng T, xã HD, T O, Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Họ và tên bố: Lê Văn T, sinh năm: 1972; Họ và tên mẹ: Lâm Thị B, sinh năm: 1974; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là lớn nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Danh chỉ bản số 202 do Công an huyện T O, Hà Nội lập ngày 09.5.2024.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có mối quan hệ quen biết nên Lê Văn S sinh năm 1999, trú tại thôn Hoàng T, xã HD, huyện T O, Hà Nội thường xuyên đến nhà của Nguyễn Việt N sinh năm 1997, trú tại thôn TĐ, xã HD, T O, Hà Nội chơi và S biết N thường xuyên mua bán ma túy cho các con nghiện để kiếm lời. Theo lời khai của S, từ giữa tháng 4/2024, S giúp N đi giao ma túy cho khách mua ma túy của N khoảng 10 lần và được N trả công cho S 02 lần, mỗi lần 500.000 đồng.
Khoảng 17 giờ ngày 03/5/2024, Lê Văn S đến nhà N chơi. Đến khoảng 20 giờ 50 phút cùng ngày, khi S đang tầng 1 nhà N thì N sử dụng số điện thoại 0976.485.*** gọi đến số điện thoại 0387.541.*** của S bảo S lên phòng của N ở tầng 2 có công việc. Khi S lên phòng N, N đưa cho S 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng. N bảo S sử dụng chiếc xe mô tô BKS 29X7-63*** của N đi xuống thôn Ngô Đ, xã HD để giao gói ma túy trên cho khách mua có số điện thoại 0813.513.xxx. S đồng ý và cầm gói ma túy N đưa ở trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô của N đi đến đường trục gần ngã ba thôn Ngô Đ, xã HD thì dừng xe lại. S đến gần một cột điện ven đường rồi cất giấu gói ma túy vào hốc cột điện. Sau đó, S sử dụng điện thoại lắp sim số 0387.541.*** gọi vào số điện thoại 0813.513.xxx do N đưa để bảo người mua đến lấy ma túy. Khi S đang ngồi trên chiếc xe mô tô BKS 29X7-63*** đó ở gần cột điện nơi S giấu ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy, Công an huyện T O phối hợp với Công an xã HD đến kiểm tra. S tự giác khai nhận việc mua bán ma túy và lấy từ hốc cột điện giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa các tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa các tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng (S khai là ma túy đã được N giao cho để đi bán cho khách mua).
- 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 29X7-63***, đăng ký mang tên Nguyễn Việt N.
- 01 điện thoại Nokia 105 màu xanh lắp sim số 0387514***.
Tại Kết luận giám định số 3299 ngày 13/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận:
- 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong có:
- + Các hạt tinh thể màu trắng đều là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,341 gam.
- + 01 viên nén màu hồng là ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,103 gam.
Tại Cáo trạng số 98/CT-VKS ngày 15.10.2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện T O, thành phố Hà Nội đã truy tố Lê Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị Xử phạt: Lê Văn S từ 26 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy số ma túy đã thu giữ. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai nhận tội của các bị cáo và các tài liệu chứng cứ khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hoàn toàn đúng với các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 03/5/2024, tại đường trục gần ngã ba thôn Ngô Đ, xã HD, Lê Văn S có hành vi bán trái phép 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng và 01 viên nén màu hồng (theo kết quả giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội thì gói ma túy trên có trọng lượng 0,444 gram, ma túy loại Methamphetamine), cho người có số điện thoại 0813.513.xxx nhằm mục đích kiếm lời. Khi S đang chờ giao ma túy cho khách thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy, Công an huyện T O phối hợp với Công an xã HD bắt quả tang, thu giữ cùng toàn bộ vật chứng.
[3]. Hành vi của Lê Văn S đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T O, Hà Nội truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Hành vi của bị cáo là trái phép, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an an toàn xã hội; Bị cáo là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ nhưng không chịu tu dưỡng, làm ăn lương thiện mà lựa chọn việc mua bán ma túy để kiếm lời nên cần phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm. Xét nguyên tắc có lợi cho bị cáo, HĐXX xác định thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang 03/5/2024.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5]. Về xử lý vật chứng: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định trong có chứa ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với Nguyễn Việt N, ngày 04/5/2024, Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp nhưng N đã trốn khỏi địa phương. Ngày 30/9/2024, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định số 2375 tách hành vi và tài liệu liên quan đến Nguyễn Việt N để tiếp tục xác minh điều tra làm rõ là có căn cứ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS 29X7-63***, đăng ký mang tên Nguyễn Việt N và chiếc điện thoại Nokia 105 màu xanh lắp sim số 0387514***: Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô BKS 29X7-63*** là của Nguyễn Việt N, còn chiếc điện thoại Nokia 105 S khai được N đưa cho S để S sử dụng và liên lạc đi giao bán ma túy cho khách. Đối với số điện thoại 0387.514.***, quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là anh Lê Văn Duy sinh năm 1987, trú tại thôn Tiền Văn, xã Dân Hoà, huyện T O. Tháng 02/2024, anh Duy cho con gái là Lê Thị Lộc, sinh năm 2012, trú tại thôn Quế S, xã Tân Ước, huyện T O số điện thoại trên. Tháng 4/2024, cháu Lộc cho anh Nguyễn Văn Thành Công mượn chiếc điện thoại rồi anh Công làm rơi mất nên hiện cháu Lộc và anh Công đều không sử dụng số điện thoại này. Xác minh chiếc xe mô tô và điện thoại nêu trên không có trong dữ liệu vật chứng nên Cơ quan điều tra đã tách chiếc xe mô tô và chiếc điện thoại để tiếp tục điều tra làm rõ là có căn cứ.
Đối với người khách mua ma tuý có số điện thoại 0813.513.xxx. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao là bà Nguyễn Chi Mai sinh năm 1979, trú tại phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân, Hà Nội. Bà Mai khai bà không sử dụng, không đăng ký số điện thoại trên nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà Mai. Do chưa xác định được nhân thân lai lịch người mua ma tuý của N nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
Lê Văn S khai ngoài ngày 03/5/2024 đem bán ma túy cho người có số điện thoại 0813.513.xxx thì trước đó từ giữa tháng 4/2024, S giúp N đi giao ma túy cho khách mua ma túy của N khoảng 10 lần và được N trả công cho S 02 lần, mỗi lần với số tiền 500.000 đồng. Tuy nhiên, ngoài lời khai của S, không có tài liệu chứng cứ nào khác, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.
[6]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn S phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn S 34 (Ba mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam 03/5/2024. - Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì hoàn lại sau giám định của PC09 - Công an thành phố Hà Nội bên trong có mẫu vật hoàn lại, tại các mép dán có chữ ký của Lê Văn S, đồng chí Dương Văn Hoàng và giám định viên tại các mép dán.
- (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện T O và Chi cục thi hành án dân sự huyện T O, Hà Nội).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo Lê Văn S phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Mai |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T O, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý (Lê Văn S)
