Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DS-ST

Ngày: 11/10/2024

V/v tranh chấp đòi lại quyền sử

dụng đất, yêu cầu di dời tài sản

gắn liền với đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Qui

Bà Trịnh Thị Trúc Linh

– Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang – Thư ký Tòa án nhân dân

thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham

gia phiên tòa: Ông Trương Thanh Tình – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 10 tháng 10 năm 2024 và ngày 11 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2023/TLST-DS ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản gắn liền với đất theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 227/2024/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 190/2024/QÐST-DS ngày 25 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
    • 1.1. Ông Cao Quang H, sinh năm 1996; Địa chỉ: khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
    • 1.2. Ông Cao Quang N, sinh năm 1994; Địa chỉ: khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Cao Quang N: Ông Cao Quang H, sinh năm 1996; Địa chỉ: khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09/8/2024) (có mặt).

  2. Bị đơn: Bà Cao Thị D, sinh năm: 1976; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Cao Thị D: Ông Nguyễn Văn Bé B, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang – Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 15/12/2023) (có mặt).

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1. Ông Nguyễn Văn Bé B, sinh năm 1970; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (chồng bà Cao Thị D) (có mặt).
    • 3.2. Bà Nguyễn Thị Diễm H1, sinh năm 1994; Địa chỉ: khu phố D, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương (con bà Cao Thị D) (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    • 3.3. Anh Nguyễn Chí L, sinh năm 2005; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (con bà Cao Thị D) (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    • 3.4. Nguyễn Thị Mộng T, sinh ngày 06/12/2013; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (con bà Cao Thị D) (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

    Người đại diện hợp pháp của Nguyễn Thị Mộng T: Bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang – Là người đại diện theo pháp luật.

    • 3.5. Ông Cao Quang T1, sinh năm 1965 (cha ruột nguyên đơn); Địa chỉ: khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
    • 3.6. Bà Võ Thị Lệ H2, sinh năm 1965 (mẹ ruột nguyên đơn); Địa chỉ: khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
    • 3.7. Ông Cao Minh H3, sinh năm 1984 (anh ruột nguyên đơn); Địa chỉ: khu phố F, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có yêu cầu giải quyết mặt).
    • 3.8. Ông Cao Hoàng A, sinh năm 1954; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    • 3.9. Bà Cao Thị T2, sinh năm 1969; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  2. Người làm chứng: Ông Trần Văn C, sinh năm 1967; Địa chỉ: ấp T, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông Cao Quang H và ông Cao Quang N (có người đại diện theo ủy quyền là ông Cao Quang H) trình bày: Phần đất tranh chấp theo diện tích đo đạc thực tế là 74,4m² có nguồn gốc của gia đình do ông Cao Quang T1 và Võ Thị Lệ H2 tặng cho lại cho ông Cao Quang H và ông Cao Quang N. Ông H và ông N đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01942, ngày 23/5/2018 tại thửa số 1633, diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 313,9m². Trước đây, ông T1 và bà H2 có cho bà Cao Thị D ở nhờ cất nhà trên phần đất, việc cho ở nhờ không có giấy tờ gì do các bên có quan hệ ruột thịt, đến năm 2023 do nhu cầu sử dụng lại đất nên nguyên đơn có yêu cầu bị đơn trả lại đất và giải quyết hỗ trợ di dời nhưng bị đơn không đồng ý trả lại đất cho nguyên đơn.

Theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Cao Thị D cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đang ở trên phần đất tranh chấp gồm ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 74,4m², đồng thời yêu cầu di dời toàn bộ nhà cửa, tài sản, công trình xây dựng và cây trồng trên phần đất trả lại hiện trạng phần đất ban đầu cho nguyên đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn thống nhất nhận toàn bộ tài sản trên phần đất tranh chấp, đồng thời trả số tiền tương ứng giá trị tài sản theo kết quả định giá tài sản.

Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Văn Bé B là người đại diện theo ủy quyền của bà Cao Thị D, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Năm 1992, cha ruột của bà D là ông Cao Quang H4 có cho bà D và ông B1 Bảy phần đất có chiều ngang khoảng 10 mét, chiều dài tính từ lộ đến bờ sông T để cất nhà ở, sau khi nhận đất thì gia đình bà D có cất nhà gỗ để ở, khi cất nhà thì không ai ngăn cản và cũng không có ai tranh chấp. Ông Nguyễn Văn Bé B không đồng ý toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông B trình bày không yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập mà đề nghị giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Ông B thay đổi lời trình bày là phần đất tranh chấp do mẹ vợ là bà Bùi Thị T3 tặng cho chứ không phải ông Cao Quang H4 tặng cho nhưng cũng không có giấy tờ gì để chứng minh.

Quá trình giải quyết vụ án những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • - Bà Nguyễn Thị Diễm H1, anh Nguyễn Chí L, Nguyễn Thị Mộng T cùng trình bày: Diễm H1, Chí L và Mộng T là các con của bà D và ông B, mọi vấn đề có liên quan đến giải quyết vụ án do bà D toàn quyền quyết định, ý kiến của bà D như là ý kiến của Diễm H1, Chí L và Mộng T. Các đương sự yêu cầu giải quyết vắng mặt trong suốt thời gian giải quyết vụ án.

  • - Ông Cao Quang T1, bà Võ Thị Lệ H2, ông Cao Minh H3 cùng trình bày: Toàn bộ thửa đất tại thửa số 1633, diện tích trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 313,9m², các thành viên trong gia đình đã đồng ý tặng cho cho Cao Quang H và Cao Quang N nên để H, N quyết định, các đương sự không có yêu cầu gì trong vụ án này. Đối với bà Võ Thị Lệ H2 trình bày bổ sung, nguồn gốc phần đất mà ông Cao Quang H, ông Cao Quang N tranh chấp với bà Cao Thị D là của bà Bùi Thị T3 cho lại bà H2 và ông Cao Quang T1 trước năm 1987. Trước khi cho đất vợ chồng bà H2 và ông T1 thì bà Cao Thị T2 đi cầm cố đất cho người khác nhưng sau đó vợ chồng bà H2 và ông T1 bỏ tiền để chuộc lại bằng khoán rồi mới chuyển lại ông T1 đứng tên. Ông T1 sử dụng đất đến năm 2004 thì được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích 6.653m². Trước đây (không nhớ thời gian cụ thể) chính bà H2 là người cho bà D ở nhờ, khi bà D gặp khó khăn, không có chỗ ở, bà D có hỏi chỗ ở nhờ nhưng bà T3 (mẹ ruột bà D) khi còn sống và cả ông Cao Quang T1 cũng không cho ở nhưng nghĩ tình nghĩa gia đình nên bà H2 cho ở đến ngày hôm nay, khi nào gia đình bà H2 cần trả lại đất thì bà D sẽ trả nhưng bà D không thực hiện. Lúc cho bà Dư M đất để cất nhà ở thì cũng không có giấy tờ gì, chỉ thỏa thuận miệng do các bên có quan hệ ruột thịt.

  • - Ông Cao Hoàng A trình bày: Trước đây (không nhớ thời gian cụ thể) thì bà Bùi Thị T3 là mẹ ruột ông Hoàng A và bà D có cho bà D nền nhà bà D đang ở nhưng không có giấy tờ gì. Tuy nhiên, đến năm 2004 thì phát sinh biên bản phân chia đất nhưng không có chia cho bà D thì ông Hoàng A không biết, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, ông Hoàng A không có ý kiến hay yêu cầu gì, ông Hoàng A cũng không có liên quan đến phần đất tranh chấp. Ông Hoàng A đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

  • - Bà Cao Thị T2 trình bày: Trước đây (không nhớ thời gian cụ thể nhưng trước khi lập biên bản thỏa thuận phân chia đất năm 2004) thì bà Bùi Thị T3 là mẹ ruột bà T2 và bà D có cho bà D nền nhà bà D đang ở nhưng không có giấy tờ gì. Lúc đó, bà T2 và bà D có trao đổi với bà T3 cắt chia đất cho ông Cao Quang T1, nội dung trong biên bản phân chia đất là đúng. Tại thời điểm lập biên bản phân chia đất thì có bà T2 và bà D ký tên nhưng bà D không lường trước được là ông T1 lấy lại nền nhà bà D đang ở nên trong biên bản phân chia đất không có phân chia đất cho bà D. Ý kiến của bà T2 là phần đất đang tranh chấp thì để bà D tiếp tục ở. Bà T2 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

  • Người làm chứng ông Trần Văn C trình bày: Ông C không có mối quan hệ thân thích với gia đình ông Cao Quang T1, Cao Thị D. Theo Biên bản phân chia đất (có thể hiện giờ, phút nhưng không nhớ ngày tháng năm) thể hiện gia đình bà Bùi Thị T3 có nhờ chính quyền ấp, khi đó ông Lê Văn X là trưởng ấp (hiện nay ông X đã chết) lập dùm biên bản phân chia đất nêu trên. Khi lập có mặt của bà Bùi Thị T3, ông Cao Quang Đ, ông Cao Quang T1, bà Cao Thị T2 và bà Cao Thị D, có ông X (là người viết biên bản phân chia đất), có ông Trần Văn Công chứng K. Theo đó, các bên đồng ý phân chia cho bà Cao Thị T2 một phần đất, ông Cao Quang T1 phần đất còn lại, những người khác bao gồm bà T3, ông Đ, bà D không được phân chia đất. Do thời gian đã lâu nên ông C không nhớ diện tích mà bà T2 và ông T1 được phân chia đất là bao nhiêu. Sau khi ông X lập xong biên bản thì tất cả đều đồng ý và thống nhất ký tên, ông X cũng đại diện ấp ký tên, ông C có chứng kiến nhưng không có ký tên vì lúc đó ông C là Phó Trưởng ấp, ông X trưởng ấp nên để ông X đại diện ký tên. Lý do gì bà D đang cất nhà ở trên đất thì ông C không nắm rõ. Ông C đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Quang H và Cao Quang N về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất. Buộc bị đơn bà Cao Thị D, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B) có nghĩa vụ giao lại phần đất có diện tích 74,4m². Ông Cao Quang H và ông Cao Quang N có nghĩa vụ trả lại giá trị tài sản trên đất tổng cộng là 67.989.560 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn, năm trăm sáu mươi đồng) cho bị đơn bà Cao Thị D, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B). Ông Cao Quang H và ông Cao Quang N được quyền sử dụng toàn bộ cây trồng trên phần đất gồm căn nhà diện tích 51,83m² (kết cấu khung cột gỗ tạp, mái tole, vách tole, nền lót gạch ceramic; mái che trước nhà, diện tích 10,95m², nhà vệ sinh + nhà kho, diện tích 9m², 01 cây giếng khoan, 04 cây mai vàng. Bà Cao Thị D, ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B) được quyền lưu cư trong thời hạn 03 (ba) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ đã thể hiện trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại Tòa án, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về thủ tục tố tụng:
    1. [1.1] Nguyên đơn khởi kiện bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu trả lại phần đất lấn chiếm, và di dời tài sản gắn liền với đất, đồng thời bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn thị xã L. Do đó, đây là “Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản gắn liền với đất”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Luật Đất đai.

    2. [1.2] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Diễm H1, anh Nguyễn Chí L, Nguyễn Thị Mộng T, ông Cao Minh H3, ông Cao Hoàng A, bà Cao Thị T2, người làm chứng ông Trần Văn C có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228, Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, xét xử vắng mặt những người nêu trên.

    3. [1.3] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa các đương sự thống nhất với kết quả đo đạc theo Mảnh trích đo địa chính số 09/SHC ngày 26/02/2024 của Công ty TNHH Đ1 cũng như kết quả định giá tài sản của Công ty cổ phần T5. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào kết quả đo đạc cũng như định giá đã được các đương sự thống nhất làm cơ sở giải quyết vụ án.

    4. [1.4] Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Cao Thị D có yêu cầu phản tố đối với ông Cao Quang H, yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 50m² cho bà Cao Thị D được quyền đứng tên sử dụng. Ngày 24/7/2024, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ ban hành Thông báo số 35/TB-TA yêu cầu bà Cao Thị D sửa đổi, bổ sung đơn phản tố nhưng bà D không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án, do đó, ngày 05/8/2024, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ đã ban hành Thông báo số 82/TB-TA trả lại đơn phản tố cho bà Cao Thị D.

      Trước khi mở phiên tòa, bà Cao Thị D cho rằng nguồn gốc phần đất bà Cao Thị D đang ở là do cha ruột là ông Cao Quang H4 tặng cho bà D, tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông B xác định lại là phần đất đang tranh chấp là do mẹ vợ bà Bùi Thị T3 tặng cho lại nhưng cũng không có giấy tờ gì. Qua lời khai của đương sự và xác minh tại địa phương thể hiện ông Cao Quang H4 (đã chết năm 1991), bà Bùi Thị T3 (đã chết năm 2007), chỉ 01 dòng con bao gồm 09 người con gồm: Bà Cao Thị B1, hiện nay còn sống nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể; ông Cao Quang M1, hiện nay còn sống, đang bị bệnh tai biếng, không nói chuyện được; ông Cao Hoàng A; bà Cao Thị N1, hiện nay còn sống nhưng không xác định được địa chỉ cụ thể; ông Cao Quang Đ (đã chết), có vợ và con nhưng hiện nay không biết thông tin ở đâu; ông Cao Quang T1; ông Cao Quang T4, đã chết năm 1993, không có vợ con; bà Cao Thị T2 và bà Cao Thị D. Ngoài ra, không còn ai khác. Các đương sự cùng thống nhất, tranh chấp giữa các đương sự không có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của những người còn lại là các con, thành viên gia đình của ông Cao Quang H4 và bà Bùi Thị T3, thêm vào đó hiện nay không xác định được thông tin cũng như không làm việc được đối với những người còn lại là bà Cao Thị B1, ông Cao Quang M1, bà Cao Thị N1, vợ và các con của ông Cao Quang Đ. Hơn nữa, như đã nhận định nêu trên, Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ đã trả lại đơn phản tố của bà Cao Thị D yêu cầu công nhận phần đất, tại phiên tòa sơ thẩm ông B trình bày bị đơn không phản tố, ông B không yêu cầu độc lập mà đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật. Căn cứ vào Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, trong phạm vi giải quyết vụ án Hội đồng xét xử chỉ xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chưa đề cập giải quyết đến yêu cầu phản tố của bị đơn cũng không xác định tư cách tham gia tố tụng của những người nêu trên.

  2. [2] Về nội dung:
    1. [2.1] Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 74,4m². Nguyên đơn cho rằng, phần đất nêu trên thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà Nhà nước đã cấp cho nguyên đơn; bị đơn cho rằng phần đất do bị đơn sử dụng từ năm 1992, trước khi mở phiên tòa, bà Cao Thị D cho rằng nguồn gốc phần đất bà Cao Thị D đang ở là do cha ruột là ông Cao Quang H4 tặng cho bà D, tại phiên tòa sơ thẩm đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông B xác định lại là phần đất đang tranh chấp là do mẹ vợ bà Bùi Thị T3 tặng cho lại nhưng cũng không có giấy tờ gì.

      Hội đồng xét xử nhận định: Các đương sự đều thống nhất, nguồn gốc phần đất 74,4m² là của ông Cao Quang H4, bà Bùi Thị T3 tạo lập, sau nhiều lần giao dịch thì nguyên đơn Cao Quang H, Cao Quang N được đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS01942 tại thửa 1633, tờ bản đồ số 01, diện tích trên giấy chứng nhận là 313,9m² do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp vào ngày 23/5/2018. Nguyên đơn cho rằng trước đây do có quan hệ ruột thịt nên cha mẹ nguyên đơn là ông T1 và bà H2 có cho bà Dư mượn đất để cất nhà ở, ban đầu là nhà tạm, sau đó bị đơn có sửa chữa thêm theo hiện trạng như hiện tại. Việc cho mượn đất để ở nhờ mặc dù không có lập giấy tờ nhưng bà D có hứa khi nào phía ông T1, bà H2 cũng như nguyên đơn có nhu cầu sử dụng đất thì bà D sẽ trả lại. Đến năm 2023, nguyên đơn có nhu cầu sử dụng đất nên yêu cầu bà D trả lại đất nhưng bà D không trả nên xảy ra tranh chấp. Về phía bị đơn bà D trình bày có mâu thuẫn trong việc xác định các căn cứ sử dụng đất hợp pháp, theo bản tự khai ngày 15/12/2023, bà D trình bày phần đất tranh chấp được cha ruột là ông Cao Quang H4 tặng cho năm 1992 nhưng căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như sự thống nhất giữa các đương sự thì ông H4 đã chết vào năm 1991 (chết trước thời điểm bị đơn bà D cho rằng có sự việc tặng cho đất), nên tại phiên tòa sơ thẩm ngày 10/10/2024 ông Bé B là đại diện theo ủy quyền của bị đơn, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định lại là phần đất tranh chấp do mẹ là bà Bùi Thị T3 tặng cho đất nhưng suốt quá trình giải quyết vụ án bị đơn cũng như ông B không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh có tồn tại sự việc tặng cho đất của bà T3 tặng cho đất bà D và ông B. Thêm vào đó, theo biên bản phân chia đất ngày 22/3/2004 thì tại thời điểm lập biên bản nêu trên có mặt bà Bùi Thị T3, có mặt một số người con trong gia đình của bà T3, trong đó có bị đơn bà Cao Thị D tham gia thì trong nội dung biên bản này không thể hiện có chia đất cho bị đơn bà D mà chỉ chia đất cho bà Cao Thị T2 và ông Cao Quang T1, các đương sự đều thống nhất có sự việc nêu trên, ông B, bà T2 cũng như người làm chứng ông Trần Văn C (khi đó là Phó Trưởng ấp chứng kiến toàn bộ sự việc lập biên bản phân chia đất) đều xác định bà D có tham gia và ký tên vào biên bản. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Như vậy, đang có mâu thuẫn trong trình bày của đại diện bị đơn cho rằng phần đất được bà T3 cho năm 1992 nhưng khi lập biên bản phân chia đất năm 2004 có sự tham gia của chính bà T3 và cả bà D thì không có phân chia đất cho bà D mà phần đất bà D đang ở mà lại chia đất cho ông Cao Quang T1 đứng tên. Ông B cho rằng, vì tại thời điểm lập biên bản bà D có nghe nói lại là phần đất cặp sông nên không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lời trình bày này là không có căn cứ và không phù hợp với chính sách về đất đai, bởi lẽ, sau khi lập biên bản phân chia đất thì hộ ông Cao Quang T1 đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

      Ngoài ra, căn cứ vào ý kiến thành viên hộ gia đình ông Cao Quang T1, bà Võ Thị Lệ H2, ông Cao Minh H3 thì không có tranh chấp về phần đất đã chuyển cho nguyên đơn Cao Quang H, Cao Quang N, để nguyên đơn toàn quyền quyết định liên quan đến việc sử dụng đất. Đồng thời, theo Công văn số 1358/STNMT-VPĐKĐĐ ngày 28/5/2024 của Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh H xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Cao Quang T1 và Cao Quang Nghĩa là đúng trình tự, thủ tục theo quy định.

      Theo biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 07/8/2024 thì hiện nay tài sản trên đất do bà D, ông B và các con gồm Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T đang sử dụng. Anh L1 và Mộng T không có ý kiến, yêu cầu gì, để cho bà D toàn quyền quyết định.

      Căn cứ vào khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015 “1. Chủ sở hữu, .... có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”.

      Từ những phân tích nêu trên, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh các căn cứ để được sử dụng đất hợp pháp. Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự “4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, có căn cứ để Hội đồng xét xử buộc bị đơn bà Cao Thị D cùng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T có nghĩa vụ trả cho Cao Quang H và Cao Quang N phần đất có diện tích 74,4m².

    2. [2.2] Về tài sản trên đất: Căn cứ vào kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 13/12/2023 và ngày 07/8/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, Chứng thư thẩm định giá ngày 315/2024 của Công ty cổ phần T5 giá thống nhất thì trên phần đất có căn nhà diện tích 51,83m² (kết cấu khung cột gỗ tạp, mái tole, vách tole, nền lót gạch ceramic; mái che trước nhà, diện tích 10,95m², nhà vệ sinh + nhà kho, diện tích 9m², 01 cây giếng khoan, 04 cây mai vàng. Tổng giá trị tài sản bao gồm công trình và cây trồng trên đất là 67.989.560 đồng. Xét thấy, đối với căn nhà trên đất, theo Công văn số 13/CHK của Công ty cổ phần Đ2 thì có một phần diện tích căn nhà và nhà kho thuộc phạm vi giải phóng mặt bằng, đồng thời, theo Công văn số 298/UBND ngày 04/10/2024 của Ủy ban nhân dân xã L xác định qua kết quả kiểm tra, xác minh thực tế đối với trường hợp xây dựng nhà của bà Cao Thị D thì nhà đã xây dựng năm 1999, sau đó nhà xuống cấp, hư hỏng, bà D đã nâng cấp sửa chữa lại nhiều lần; vào thời điểm đó Ủy ban nhân dân xã không có lập biên bản vi phạm hành chính và cũng không có ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định. Như vậy, xét thấy, vào thời điểm bà D xây dựng nhà thì không thể hiện có sự ngăn cản, nếu buộc tháo dỡ di dời nhà sẽ làm giảm giá trị tài sản, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn thống nhất trả lại giá trị tài sản cho bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất. Điều này là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.

  3. [3] Tại phiên tòa, nguyên đơn thống nhất để bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được lưu cư trên phần đất trong thời hạn 01 tháng khi án có hiệu lực. Tuy nhiên, thời gian này tương đối ngắn, do đó Hội đồng xét xử thống nhất, bị đơn bà Cao Thị D, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T được quyền lưu cư trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. [4] Xét quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  5. [5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, chi phí trích lục hồ sơ tổng cộng 7.750.000 đồng. Nguyên đơn thống nhất chịu toàn bộ, nguyên đơn đã nộp xong.
  6. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí trên số tiền có nghĩa vụ; Bị đơn bà Cao Thị D, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T phải chịu án phí 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 9 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 6, Điều 99, Điều 100, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1] Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Cao Quang H và ông Cao Quang N về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất.
  2. [2] Buộc bà Cao Thị D, ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B) có nghĩa vụ giao lại phần đất có diện tích 74,4m² theo Mảnh trích đo địa chính số 09/SHC ngày 26/02/2024 của Công ty TNHH Đ1 cho ông Cao Quang H và ông Cao Quang N. (Có Mảnh trích đo địa chính kèm theo)
  3. [3] Ông Cao Quang H và ông Cao Quang N có nghĩa vụ trả lại giá trị tài sản trên đất tổng cộng là 67.989.560 đồng (Sáu mươi bảy triệu, chín trăm tám mươi chín nghìn, năm trăm sáu mươi đồng) cho bà Cao Thị D, ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B).
  4. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
  5. Ông Cao Quang H và ông Cao Quang N được quyền quản lý, sử dụng toàn bộ cây trồng trên phần đất gồm căn nhà diện tích 51,83m² (kết cấu khung cột gỗ tạp, mái tole, vách tole, nền lót gạch ceramic; mái che trước nhà, diện tích 10,95m², nhà vệ sinh + nhà kho, diện tích 9m², 01 cây giếng khoan, 04 cây mai vàng.
  6. [4] Bà Cao Thị D, ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B) được quyền lưu cư trong thời hạn 03 (ba) tháng, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  7. [5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, chi phí trích lục hồ sơ tổng cộng số tiền 7.750.000 đồng (Bảy triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Nguyên đơn ông Cao Quang H, ông Cao Quang N thống nhất chịu toàn bộ, nguyên đơn ông Cao Quang H, ông Cao Quang N đã nộp xong.
  8. [6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn ông Cao Quang H, ông Cao Quang N phải nộp 3.399.478 đồng (Ba triệu, ba trăm chín mươi chín nghìn, bốn trăm bảy mươi tám đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0007622 ngày 23 tháng 10 năm 2023 và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0007932 ngày 07 tháng 8 năm 2024. Các biên lai đều của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Nguyên đơn ông Cao Quang H, ông Cao Quang N phải nộp thêm số tiền 2.799.478 đồng (Hai triệu, bảy trăm chín mươi chín nghìn, bốn trăm bảy mươi tám đồng).

    Bà Cao Thị D, ông Nguyễn Văn Bé B, anh Nguyễn Chí L và Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B) phải nộp số tiền án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

  9. [7] Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  10. [8] Nguyên đơn ông Cao Quang H, ông Cao Quang N; bị đơn bà Cao Thị D; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Bé B, ông Cao Quang T1, bà Võ Thị Lệ H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/10/2024). Bà Nguyễn Thị Diễm H1, anh Nguyễn Chí L, Nguyễn Thị Mộng T (có người đại diện hợp pháp là bà Cao Thị D và ông Nguyễn Văn Bé B), ông Cao Minh H3, ông Cao Hoàng A, bà Cao Thị T2 vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS TX Long Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 11/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 96/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger