Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DS-ST

Ngày: 24/9/2024

V/v “Tranh chấp mua bán tài sản".

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Thanh Hùng;
  2. Ông Nguyễn Phước Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên toà: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 164/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 209/2024/QĐXXST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Huỳnh Thị Cẩm H, sinh năm: 1964;
  2. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Địa chỉ liên lạc: ấp C, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  3. Bị đơn: bà Trần Ngọc G, sinh năm: 1973;
  4. Địa chỉ: ấp K, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Phan Trường D, sinh năm: 1990;
    2. Anh Phan Gia K, sinh năm: 1999;

    Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Bà H có yêu cầu giải quyết vắng mặt; bà G, anh D, anh K vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 4 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị Cẩm H trình bày:

Năm 2013, ông N và bà G có mua thức ăn chăn nuôi gà của cơ sở thức ăn chăn nuôi của bà H. Bà H, ông N thỏa thuận, khi mua thức ăn đến lúc bán gà thì trả tiền thức ăn cho bà H. hai bên mua bán theo thỏa thuận đến hết năm 2012. Đến năm 2013, ông N, bà G còn nợ bà H 50.000.000 đồng. Bà G có ghi giấy nhận nợ; khoảng 02 năm sau trả cho bà H được 5.000.000 đồng và hiện còn nợ bà H số tiền thức ăn chăn nuôi là 45.000.000 đồng. Bà H nhiều lần yêu cầu ông N và bà G trả nhưng đến nay ông N, bà G không trả.

Ngày 07/12/2023, ông N chết. Người thừa kế của ông N là bà Trần Ngọc G, vợ của ông N; Phan Trường D và Phan Gia K, là con của ông N. Nay, bà H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà G cùng hàng thừa kế thứ nhất của ông N là anh D và anh K cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền là 45.000.000 đồng. Bà H không yêu cầu tính lãi.

Tại bản tự khai ngày 18/7/2024 và 29/7/2024, bà H trình bày: khi ông N chết có để lại nhà và đất là thửa đất 658, 659 tờ bản đồ số 11, toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre do anh Phan Trường D và anh Phan Gia K đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện là buộc bà G, anh D, anh K có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền nêu trên và không yêu cầu tính lãi.

Do bà H bận buôn bán ở xa và đã trình bày đủ trong đơn khởi kiện, các bản tự khai nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, không có khiếu nại về sau.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trần Ngọc G trình bày:

Bà G thừa nhận ông N có mua bán thức ăn chăn nuôi gà như bà H đã trình bày trên đây. Ông N là người trực tiếp đi chở thức ăn nuôi gà và bà G là người cho ăn, chăm sóc nuôi gà và thoả thuận khi xuất bán gà thì báo cho bà H đến để thu tiền thức ăn. Sau khi xuất bán trả nợ tiền thức ăn, còn lời thì dùng để chi phí sinh hoạt cho gia đình. Nay, ông N đã chết và còn nợ bà H 45.000.000 đồng nên bà G đồng ý có trách nhiệm trả cho bà H số tiền còn nợ này. Bà H không yêu cầu tính lãi bà G đồng ý. Ông N là người mắc nợ bà H số tiền nợ 45.000.000 đồng trên. Do ông N đã chết nên bà G đồng ý có trách nhiệm trả nợ cho bà H. Bà G không phải là người trực tiếp mua bán và nợ của bà H.

Ông N và bà G có đăng ký kết hôn và trong quá trình chung sống không tạo lập ra tài sản chung. Phần đất và nhà trên đất hiện nay bà G đang sinh sống là của anh D con của ông N. Ông N khi chết không để lại tài sản gì, nhà và đất anh D và anh K đang đứng tên là của bên ngoại anh D, anh K để lại, không phải của ông N. Bà G là mẹ sau của anh D và anh K.

Tại các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Phan Gia K trình bày:

Anh K là con của ông N và mẹ là Nguyễn Thị C Ông N chết năm 2024, bà C1 chết năm 2002. Ông N và bà C1 có hai người con là anh D và anh K.

Sau khi bà C1 chết, ông N có thêm vợ mới là bà G. Ông N và bà G có một người con gái là chị Phan Đăng Ánh N1. Ông N chết không để lại tài sản gì.

Từ khi bà C1 chết, anh K không sống chung với ông N mà sống chung với dì là bà Nguyễn Thị H1. Vì vậy, số tiền của ông N nợ bà H và bà H yêu cầu anh K cùng anh D và bà G liên đới trả cho bà H, anh K không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh D vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa nên không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

  • Về thủ tục tố tụng: từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay không có lý do.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ Điều 21, 26, 35, 39, Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430, 440, 615 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn Huỳnh Thị Cẩm H; buộc bị đơn Trần Ngọc G có nghĩa vụ trả cho Huỳnh Thị Cẩm H số tiền nợ là 45.000.000 đồng. Ghi nhận việc nguyên đơn không yêu cầu tính lãi.

Không chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc các anh Phan Trường D và Phan Gia K phải liên đới cùng với bà Trần Ngọc G để trả số nợ 45.000.000 đồng cho nguyên đơn Huỳnh Thị Cẩm H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 15/4/2024, bà Huỳnh Thị Cẩm H khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu giải quyết buộc bà G, anh D, anh K cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà H số tiền nợ mua thức ăn nuôi gà là 45.000.000 đồng. Bà H không yêu cầu tính lãi. Căn cứ yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 430 Bộ luật dân sự. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn bà H có yêu cầu giải quyết vắng mặt; bị đơn bà G và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh D, anh K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án xét xử vắng mặt bà H, bà G, anh D, anh K là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu của bà H yêu cầu bà G, anh D, anh K có trách nhiệm liên đới trả số tiền 45.000.000 đồng:

[2.1] Theo bà H trình bày: Năm 2013, ông N và bà G có mua thức ăn chăn nuôi gà của cơ sở thức ăn chăn nuôi của bà H và hiện còn nợ bà H số tiền là 45.000.000 đồng. Bà H nhiều lần yêu cầu ông N và bà G trả nhưng ông N, bà G không trả. Tính đến nay thì ông N và bà G còn nợ bà H 45.000.000 đồng. Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của bà H là tờ giấy không có tựa đề, ngoài ra không còn chứng cứ nào khác.

Đối với yêu cầu khởi kiện nêu trên của bà H, bà G xác định ông N có nợ của bà H số tiền 45.000.000 đồng. Bà G đồng ý trả cho bà H số tiền nợ nêu trên. Bà G không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Xét thấy, tại tờ giấy không có tựa đề là chứng cứ do bà H cung cấp chứng minh ông N và bà G nợ tiền thức ăn nuôi gà của bà H thể hiện: “Còn lại chị ba Bằng (bà H – TA) 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng)”. Nội dung trong tờ giấy này không nêu rõ ai là người mắc nợ bà H; nợ số tiền gì. Tuy nhiên, tại bản tự khai ngày 05/8/2024, bà G thừa nhận ông N có nợ của bà H số tiền mua thức ăn chăn nuôi gà là 45.000.000 đồng. Ông N đã chết nên bà G đồng ý trả cho bà H số tiền 45.000.000 đồng nên ghi nhận.

Ngoài ra, cũng tại bản tự khai ngày 05/8/2024, bà G xác định: “Ông N là người trực tiếp đi chở thức ăn nuôi gà và bà G là người cho ăn, chăm sóc nuôi gà.... Sau khi xuất bán trả nợ tiền thức ăn, còn lời thì dùng để chi phí sinh hoạt cho gia đình”. Như vậy có căn cứ xác định, việc chăn nuôi gà do ông N và bà G cùng nuôi và cùng đóng góp để cùng lo trang trải cuộc sống gia đình. Các khoản chi phí sinh hoạt trong gia đình ông N được sử dụng từ tiền lãi thu được từ việc chăn nuôi gà nêu trên. Vì vậy, bà G có trách nhiệm liên đới cùng với ông N trả cho bà H số tiền nợ 45.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 27, 37 Luật Hôn nhân và gia đình.

Yêu cầu của bà H yêu cầu bà G trả số tiền 45.000.000 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận. Cần buộc bà G có trách nhiệm trả lại cho bà H số tiền 45.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 430 Bộ luật dân sự.

Bà H không yêu cầu tính lãi nên được ghi nhận.

[2.2] Bà H yêu cầu anh D và anh K là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của ông N cùng liên đới với bà G trả số tiền nợ 45.000.000 đồng. Đối với yêu cầu của bà H, anh K không đồng ý, anh D vắng mặt tại các phiên họp, phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nên không có lời trình bày và không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

Xét thấy, tại bản tự khai ngày 05/8/2024, bà G trình bày: “thửa đất 658, 659 tờ bản đồ số 11 toạ lạc tại ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre do anh Phan Trường D và anh Phan Gia K đứng tên có nguồn gốc từ bên ngoại của anh D và anh K để lại, không phải của ông N”. Tại bản tự khai ngày 08/7/2024, anh Phan Gia K trình bày: “Ông N chết không để lại tài sản gì”. Lời trình bày của bà G và anh K phù hợp với xác nhận tại Công văn số 394/UBND-ĐC ngày 02/8/2024 của UBND xã P về việc cung cấp thông tin “thửa đất 658, 659 tờ bản đồ số 11 được tách từ thửa 265(11) chủ sử dụng ông Phan Trường D, sau đó đo đạc tách thửa chuyển quyền sử dụng đất thửa 658(11) cho em là ông Phan Gia K vào năm 2023. Hiện nay: thửa đất số 658(11), tọa lạc ấp P, xã P, huyện M, tỉnh Bến Tre, chủ sử dụng ông Phạm Gia K1; .... Thửa đất số 659(11), .... Chủ sử dụng ông Phan Trường D ... Thửa đất 658, 659(11) trước đây ông N không có đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện ông N không còn phần đất nào tại xã P”. Như vậy, có cơ sở xác định ông N chết không có để lại di sản thừa kế gì cho hai con ruột là Phan Trường D và Phan Gia K. Mặc dù anh D và anh K là hàng thừa kế thứ nhất của ông N, nhưng khi ông N chết không có để lại di sản thừa kế cho anh D và anh K thừa hưởng nên anh D và anh K không có nghĩa vụ trả nợ đối với khoản nợ của ông N với bà H theo quy định tại khoản 1 Điều 615 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, yêu cầu của bà H về việc buộc anh D và anh K cùng liên đới với bà G để trả nợ là không có cơ sở nên không được chấp nhận.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: bà G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.125.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 430, 615 Bộ luật dân sự; Điều 27, 37 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm H về việc tranh chấp hợp đồng mua bán với bà Trần Ngọc G.
  2. Buộc bà Trần Ngọc G phải có trách nhiệm trả cho bà Huỳnh Thị Cẩm H số tiền nợ là 45.000.000đ (Bốn mươi lăm triệu đồng).

    Ghi nhận bà Huỳnh Thị Cẩm H không yêu cầu tính lãi.

  3. Không chấp nhận yêu cầu cầu bà Huỳnh Thị Cẩm H yêu cầu anh Phan Trường D và Phan Gia K có trách nhiệm liên đới cùng với bà Trần Ngọc G trả cho bà Huỳnh Thị Cẩm H số nợ 45.000.000đ (Bốn mưới lăm triệu đồng).
  4. Về án phí: bà Trần Ngọc G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng).
  5. Hoàn trả cho bà Huỳnh Thị Cẩm H số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 1.125.000đ (Một triệu một trăm hai mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004737 ngày 24/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

  6. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  7. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Chi cục THA DS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 24/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản

  • Số bản án: 96/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Cẩm H tranh chấp hợp đồng vay Trần Ngọc G
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger