|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 23/09/2024
V/v: Tranh chấp ly hôn và nuôi
con chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Danh Pì Sách
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Kiện
2. Ông Vũ Văn Hợp
- Thư ký phiên Tòa: Bà Nguyễn Chí Thăng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa:
Ông Bành Bảo Ngọc – Kiểm Sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 257/2024/TLST – HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “ Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 69/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trà Mi, sinh năm: 1984
Địa chỉ: ấp Vĩnh Thành A, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.
(Chị Mi có mặt tại phiên tòa)
* Bị đơn: Anh Huỳnh Phước Thành, sinh năm: 1972;
Địa chỉ: số 263, đường Trần Khánh Dư, khu vực 6, phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.
(Anh Thành vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 07/6/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trà Mi trình bày: Vào năm 2011 chị và anh Huỳnh Phước Thành quen biết nhau, có tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang theo quy định của pháp luật được cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 102, ngày 17/5/2012.
Về con chung: Chị Trà Mi xác nhận trong quá trình chung sống với anh Thành thì có với nhau 02 người con chung tên: Huỳnh Phát Đạt, sinh ngày 19/02/2012 và Huỳnh Phúc Khánh, sinh ngày 03/06/2016 hiện đang sống cùng với chị Mi.
Về tài sản chung: Chị Mi xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Chị Mi xác định vợ chồng anh chị không có nợ ai và không ai nợ vợ chồng anh chị.
Trong thời gian chung sống, vợ chồng anh chị thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, hay bất đồng ý kiến, quan điểm, thường xuyên cự cãi với nhau dù rằng hai vợ chồng đã cố gắng tìm tiếng nói chung nhưng không thành, từ đó dẫn đến hai bên không còn tình cảm, cuộc sống không còn hạnh phúc và chị Mi và anh Thành đã sống ly thân từ cuối năm 2023 đến nay. Do tình cảm vợ chồng giữa chị Mi và anh Thành đã rạn nứt, không thể hàn gắn nên chị Mi làm đơn ly hôn gởi đến Tòa án yêu cầu như sau:
- Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh Huỳnh Phước Thành
- Về con chung: Xin tiếp tục nuôi dưỡng 02 người con chung tên: Huỳnh Phát Đạt, sinh ngày 19/02/2012 và Huỳnh Phúc Khánh, sinh ngày 03/06/2016, không yêu cầu anh Thành cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn anh Huỳnh Phước Thành đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh Thành điều không có mặt và không gửi văn bản trình bày ý kiến để Tòa án xem xét. Do đó, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và kết quả xác minh Tòa án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, sự tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung:
Về hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trà Mi được ly hôn với anh Huỳnh Phước Thành.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] - Về tố tụng:
[1.1] – Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Chị Nguyễn Thị Trà Mi yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con với anh Huỳnh Phước Thành, do đó đây là quan hệ “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015. Đồng thời, bị đơn anh Thành hiện đang sinh sống và làm việc tại ấp Vĩnh Thành A, xã Vĩnh Hòa Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo đơn xác nhận của Công an xã Vĩnh Hòa Hiệp, ngày 30/5/2024 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS năm 2015.
[1.2] – Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Huỳnh Phước Thành đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ 2 theo quy định pháp luật nhưng anh Thành vắng mặt không lý do nên hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp theo quy định pháp luật.
[2] - Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Trà Mi yêu cầu ly hôn với anh Huỳnh Phước Thành, Hội đồng xét xử xét thấy rằng chị Mi và anh Thành xác định anh chị xác lập quan hệ vợ chồng trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số: 102, ngày 17/5/2012 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Mi cho rằng quá trình chung sống vợ chị phát sinh mâu thuẫn, theo chị Mi là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn tình cảm nên vợ chồng không hạnh phúc. Thực tế chị Mi và anh Thành đã sống ly thân trong thời gian dài, không ai quan tâm đến ai. Đối với anh Thành, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng để anh Thành biết và mời anh lên làm việc nhưng anh Thành vẫn không có mặt theo thông báo của Tòa án đều này thể hiện anh Thành không muốn hòa giải cũng như không muốn hàn gắn để được đoàn tụ với chị Nguyễn Thị Trà Mi. HĐXX xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng chị Mi và anh Thành đã kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Mi vẫn cương quyết ly hôn với anh Thành để ổn định cuộc sống. Do vậy, yêu cầu của chị Mi xin ly hôn với anh Thành là phù hợp theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên có căn cứ để chấp nhận.
[3] - Về con chung: Chị Mi xác nhận trong thời gian chung sống giữa anh chị có 02 người con chung tên Huỳnh Phát Đạt, sinh ngày 19/02/2012 và Huỳnh Phúc Khánh, sinh ngày 03/06/2016 hiện đang sống với chị Mi. Tại biên bản ghi ý kiến và nguyện vọng của cháu Đạt và cháu Khánh thì cả 02 cháu đều muốn sống với chị Mi nên HĐXX giáo cho chị Mi tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu là phù hợp với quy định của pháp luật.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, HĐXX đã giải thích về quyền yêu cầu cấp dưỡng nhưng chị Mi xác định không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
[5] - Về tài sản chung: Chị Mi xác định rằng anh chị không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó HĐXX không xem xét, giải quyết.
[6] - Về nợ chung: Chị Mi xác định rằng anh chị không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Từ những nhận định nêu trên, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trà Mi về việc tranh chấp ly hôn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] - Xét quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật như đã phân tích nêu trên, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
[8] - Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc chị Mi phải chịu các khoản án phí gồm: án phí ly hôn với số tiền là 300.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; Điều 15; khoản 2 Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên Xư:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trà Mi về việc “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung ” với bị đơn anh Huỳnh Phước Thành
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Trà Mi được ly hôn với anh Huỳnh Phước Thành.
2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Phát Đạt, sinh ngày 19/02/2012 và Huỳnh Phúc Khánh, sinh ngày 03/06/2016 cho chị Mi tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng
Anh Thành có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Về yêu cầu cấp dưỡng: Chị Mi xác định không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
3. Về tài sản chung: Chị Mi xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung: Chị Mi xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
5. Về án phí: Buộc chị Mi phải chịu các khoản án phí gồm: án phí ly hôn với số tiền là 300.000 đồng nhưng chị Mi được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005412, ngày 19/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang, nên chị Mi không phải nộp thêm.
6. Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA – PHIÊN TÒA Danh Pì Sách |
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TRANH CHẤP LY HÔN
