Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỒNG PHÚ

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 21 - 9 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Giới

Ông Nguyễn Đăng Thường

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Minh - Kiểm sát viên

Ngày 21/9/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 99/2024/TLST-HS ngày 23/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử 84/2024/QĐXXST-HS ngày 28/8/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Giang T, sinh năm 1957 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: T1; Nơi cư trú: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Làm rẫy; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc D (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H (Đã chết); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964; Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1984, con nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 20/6/2023, bị Công an xã Đ, huyện Đ xử phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi Đánh bạc; bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/5/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Đình H2, sinh năm 1971 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

Ông Lê Tuấn T2, sinh năm 1971 (Có mặt).

Địa chỉ: Khu phố S, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước.

Ông Khương Phú D1, sinh năm 1960 (Có mặt).

Địa chỉ: Ấp A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 02/01/2024, Lê Tuấn T2 cùng Khương Phú D1 đến nhà Nguyễn Giang T tại ấp A, xã Đ, huyện Đ uống rượu. Sau đó, D1 rủ T, T2 và H2 chơi đánh bạc bằng hình thức đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền, số tiền cá cược mỗi ván từ 10.000đ đến 150.000đ thì tất cả đều đồng ý. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã Đ, huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Nguyễn Giang T thì phát hiện các đối tượng đang có hành vi đánh bạc nên mời về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc xác định số tiền D1, T2, H2 và T sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.280.000đ trong đó, T sử dụng 200.000đ, H2 sử dụng 250.00đ, T2 sử dụng 500.000đ và D1 sử dụng 330.000đ để chơi đánh bạc.

Đồng thời, ngày 20/6/2023, Nguyễn Giang T bị Công an xã Đ, huyện Đ xử phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi Đánh bạc.

Tại Bản cáo trạng số 99/CT-VKS ngày 22/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Giang T về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Giang T phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Giang T mức án từ 06 đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.280.000đ;

Tuyên tịch thu, tiêu huỷ 02 (hai) bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng);

T3 trả lại cho ông Lê Đình H2 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, loại 11 Pro max, màu vàng và 01xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - vàng, BKS 93M1 – 009.27; Trả lại cho ông Khương Phú D1 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, loại Galaxy A23, màu xanh – đen và 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ - đen, BKS 93M1-388.69; Trả lại cho ông Lê Tuấn T2 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - đỏ - trắng, biển kiểm sát (BKS) 93H1 - 086.56; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Giang T 01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại A38 màu trắng.

Tại phiên toà: Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai của bị cáo Nguyễn Giang T tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 11 giờ ngày 02/01/2024, Lê Tuấn T2 cùng Khương Phú D1 đến nhà Nguyễn Giang T tại ấp A, xã Đ, huyện Đ uống rượu. Sau đó, D1 rủ T, T2 và H2 chơi đánh bạc bằng hình thức đánh bài phỏm thắng thua bằng tiền, số tiền cá cược mỗi ván từ 10.000đ đến 150.000đ thì tất cả đều đồng ý. Đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, Công an xã Đ, huyện Đ tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà Nguyễn Giang T thì phát hiện các đối tượng đang có hành vi đánh bạc nên mời về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc xác định số tiền D1, T2, H2 và T sử dụng vào mục đích đánh bạc là 1.280.000đ trog đó, T sử dụng 200.000đ, H2 sử dụng 250.00đ, T2 sử dụng 500.000đ và D1 sử dụng 330.000đ để chơi đánh bạc.

Tuy số tiền bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới 5.000000đ nhưng ngày 20/6/2023 bị cáo Nguyễn Giang T bị Công an xã Đ, huyện Đ xử phạt số tiền 1.500.000₫ về hành vi Đánh bạc và chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Nguyễn Giang T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự ra trước phiên tòa hôm nay là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với Lê Tuấn T2, Lê Đình H2 và Khương Phú D1 đã có hành vi đánh bạc cùng Nguyễn Giang T nhưng số tiền sử dụng vào mục đích đánh bạc dưới 5.000.000 đồng; ông T2, ông H2 và ông D1 chưa có tiền án, tiền sự theo quy định tại Điều 321, Điều 322 Bộ luật Hình sự nên hành vi của ông T2, ông H2 và ông D1 không cấu thành tội phạm. Cơ quan điều tra tách ra xử phạt vi phạm hành chính nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về tính chất, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo là người đủ năng lực và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc nên bị cáo ý thức được việc đánh bạc thắng thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự và an toàn công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân, đồng thời là điều kiện, nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác nhưng để thoả mãn nhu cầu cá nhân bị cáo vẫn thực hiện hành vi của mình với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có biện pháp xử lý thật nghiêm minh, tương xứng với tính chất và hậu quả hành vi mà các bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và nâng cao công tác phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo hiện đang bị bệnh và phải điều trị, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng; quá trình tại ngoại bị cáo bị cáo chấp hành tốt các quy định của địa phương, không vi phạm pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần áp dụng một hình phạt cải tạo không giam giữ và giao bị cáo cho gia đình, Ủy ban nhân dân xã nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục tạo điều kiện cho bị cáo được cải tạo, sửa đổi thành công dân tốt sống có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.

Về khấu trừ thu nhập và hình phạt bổ sung: Bị cáo hiện nay đang điều trị bệnh, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử miễn khấu trừ thu nhập và miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng vụ án:

Số tiền 1.280.000đ là số tiền bị cáo T cùng ông T2, ông H2 và ông D1 sử dụng vào mục đích đánh bạc nên cần tịch thu, sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 02 bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng) là công cụ bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu huỷ;

Đối với 01 điện thoại di động hiệu IPHONE, loại 11 Pro max, màu vàng, số Emei: 353915104722675 và 01xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - vàng, BKS 93M1 – 009.27 là tài sản hợp pháp của ông Lê Đình H2, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho ông H2;

Đối với 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG, loại Galaxy A23, màu xanh – đen, số Imei1: 353220823540734, số Imei2: 353319903540737 và 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ - đen, BKS 93M1-388.69 là tài sản hợp pháp của ông Khương Phú D1, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho ông Khương Phú D1;

Đối với 01 xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - đỏ - trắng, biển kiểm sát 93H1 - 086.56 là tài sản hợp pháp của ông Lê Tuấn T2, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại trả lại cho ông T2;

Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO, loại A38 màu trắng, số Imeil: 868714063708918 là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Giang T, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo T.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

[6] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt và xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Giang T phạm tội “ Đánh bạc”.

- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Giang T 09 (Chín) tháng cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước giám sát, giáo dục trong thời gian bị cáo chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian chấp hành án, bị cáo phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ.

- Về vật chứng vụ án:

Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.280.000đ (Một triệu hai trăm tám mươi nghìn đồng);

Tịch thu, tiêu huỷ 02 (Hai) bộ bài tây loại 52 lá (đã qua sử dụng);

Trả lại cho ông Lê Đình H2 01 (Một) điện thoại di động hiệu IPHONE, loại 11 Pro max, màu vàng, số Emei: 353915104722675 và 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - vàng, BKS 93M1 – 009.27;

Trả lại cho ông Khương Phú D1 01 (Một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG, loại Galaxy A23, màu xanh – đen, số Imei1: 353220823540734, số Imei2: 353319903540737 và 01 (Một) xe mô tô hiệu Honda, loại Wave S, màu đỏ - đen, BKS 93M1-388.69;

Trả lại cho ông Lê Tuấn T2 01 (Một) xe mô tô hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đen - đỏ - trắng, biển kiểm sát 93H1 - 086.;

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Giang T 01 (Một) điện thoại di động hiệu OPPO, loại A38 màu trắng, số Imei1: 868714063708918.

- Về án phí:

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Bị cáo Nguyễn Giang T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Đồng Phú;
  • - Bị cáo và đương sự;
  • - Bộ phận HSNV CA Đồng Phú;
  • - Phòng HSNC CA tỉnh Bình Phước;
  • - Chi cục THADS huyện Đồng Phú;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký, đóng dấu)

Nguyễn Thị Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 21/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Giang T phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger