|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST Ngày: 20-9-2024 V/v ly hôn và tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Văn Thị Thanh Trúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lương Thanh Nhàn;
Bà Trần Thị Ngọc Hạnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Huỳnh Ngọc Thủy – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 687/2024/TLST-HNGĐ ngày 13/8/2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219 /2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/9/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Trà M, sinh năm 1990; thường trú tại: Tổ C, khu phố E, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương; địa chỉ hiện tại: Thôn E, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Phạm Hoàng T, sinh năm 1991; thường trú tại: Tổ C, khu phố E, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt theo đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong Đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2024 và lời khai trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn bà Bùi Thị Trà M trình bày:
Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Trà M và ông Phạm Hoàng T sống chung với nhau từ năm 2018, có đăng ký kết hôn vào ngày 07/11/2018 tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã (nay là thành phố ), tỉnh Bình Dương. Hôn nhân hoàn toàn tự nguyện.
Vợ chồng chung sống thời gian đầu rất hạnh phúc đến năm 2021 vợ chồng thường hay xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm hay cãi vã, vợ chồng làm ăn thua lỗ gây ra nợ nần, một mình bà M phải tự trả nợ, ông T không lo làm ăn, ham chơi, không quan tâm chăm sóc cho vợ con. Ngoài ra, ông T có hành vi bạo lực gia đình gây thương tích cho bà M, bà M có nhờ chính quyền địa phương can thiệp. Bà M nhiều lần bỏ qua cho ông T nhưng ông T không thay đổi. Hiện tại, bà M và ông T đã ly thân từ năm 2023. Nay mâu thuẫn hôn nhân đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên bà M yêu cầu được ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà M và ông T có 01 người con chung tên: Phạm Hoàng Bảo N, sinh ngày 25/3/2021. Khi ly hôn, bà M yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Bà M không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Những chứng cứ, tài liệu nguyên đơn đã cung cấp: Căn cước công dân tên bà Bùi Thị Trà M (bản sao), 01 CCCD của ông Phạm Hoàng T (bản sao), giấy đăng ký kết hôn (bản sao); 01 giấy khai sinh của cháu N (bản sao); Đơn từ chối hòa giải; đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt (bản chính); Bản tự khai của bà M;
* Bị đơn ông Phạm Hoàng T trình bày:
Ông T thống nhất với lời trình bày của bà M về quan hệ hôn nhân, thời gian chung sống và nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn. Ông T cho rằng vợ chồng luôn hạnh phúc, đến năm 2022 vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn là do bà M làm ăn gây ra nợ nần, vợ chồng có cự cãi sau đó bà M tự ý bỏ về Bình Phước sinh sống. Ngoài ra, bà M còn có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Bà M cũng không còn quan tâm, chăm sóc cho ông T. Nay, trước yêu cầu khởi kiện của bà M về việc ly hôn thì ông T không đồng ý ly hôn. Vì ông T còn thương vợ và muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà M và ông T có 01 người con chung tên: Phạm Hoàng Bảo N, sinh ngày 25/3/2021. Khi ly hôn, ông T không đồng ý giao con chung là cháu Phạm Hoàng Bảo N cho bà M nuôi, ông T yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung.
Về cấp dưỡng: Ông T yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Phạm Hoàng Bảo N mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Những chứng cứ, tài liệu bị đơn đã cung cấp: 01 giấy phép lái xe (bản sao có đối chiếu).
* Tại phiên tòa: Các đương sự đều vắng mặt.
* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên tòa:
- Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu được ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và không yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung và nợ chung thì không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn không đồng ý ly hôn và không đồng ý giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Xét thấy, vợ chồng bà M và ông T đã xảy ra mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với bị đơn nên quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có đăng ký thường trú tại: Khu phố E, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
[1.3] Về việc xét xử vắng mặt: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Bùi Thị Trà M và ông Phạm Hoàng T trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, thị xã (nay là thành phố) B, tỉnh Bình Dương vào năm 2018 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 120/2018 ngày 07/11/2018. Như vậy, hôn nhân giữa bà M và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình tố tụng, bà M xác định giữa bà M và ông T đã phát sinh mâu thuẫn vợ chồng đã lâu, không thể hàn gắn được. Nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Trong quá trình chung sống ông T không lo làm ăn, có hành vi bạo lực gia đình đánh đập bà M gây thương tích, ông T không còn quan tâm chăm sóc cho vợ con. Hiện tại, vợ chồng đã sống ly thân, không còn chung sống với nhau. Bà M xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn được nên yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Phạm Hoàng T.
Quá trình tham gia tố tụng, bị đơn ông T cho rằng vợ chồng ông có mâu, thuẫn, bất đồng quan điểm sống là do bà M làm ăn gây nợ nần, tự ý chuyển ra ngoài sinh sống và có quan hệ tình cảm với người khác nhưng ông T không muốn ly hôn vì còn thương vợ. Tuy nhiên, bà M vẫn cương quyết ly hôn. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không còn hạnh phúc. Nguyên đơn xác định vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc nhau, nguyên đơn xác định không còn tình cảm với bị đơn. Quá trình tham gia tố tụng, Tòa án cũng đã vận động, hòa giải để các bên đoàn tụ nhưng không thành. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa bà M và ông T đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà M.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, bà M và ông T có 01 con chung tên: Phạm Hoàng Bảo N, sinh ngày 25/3/2021. Khi ly hôn, bà M yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung. Ông T không đồng ý, ông T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc con con chung.
Xét thấy, cháu Phạm Hoàng Bảo N, sinh ngày 25/3/2021 hiện đang sinh sống ổn định với mẹ là nguyên đơn, cuộc sống ổn định. Cháu N còn nhỏ và lại là con gái nên cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ hơn. Bà M hiện đang làm kinh doanh tự do và có nguồn thu nhập ổn định và có điều kiện chăm sóc, giáo dục cho con. Ông T yêu cầu được nuôi con nhưng chưa có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tiếp tục giao con chung là cháu Phạm Hoàng Bảo N cho bà M tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Bà M không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét, ghi nhận sự tự nguyện của bà M.
Ông T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở bị đơn thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn và bị đơn đều không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật có căn cứ chấp nhận.
[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Trà M đối với bị đơn ông Phạm Hoàng T về việc: “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con”.
- - Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Trà M được ly hôn với ông Phạm Hoàng T.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Hoàng Bảo N, sinh ngày 25/3/2021 cho bà Bùi Thị Trà M được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Ông Phạm Hoàng T không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông Phạm Hoàng T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông T thực hiện các quyền, nghĩa vụ này.
Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Bà Bùi Thị Trà M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000689 ngày 06/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thị Thanh Trúc |
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
