Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HN&GD-ST

Ngày: 17 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN DÂN NHÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Lẫm.
  • - Các hội thẩm nhân dân:
    • Ông Phạm Ngọc Anh
    • Ông Danh Lươl
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tiên – Thư ký Tòa án nhân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 136/2024/TLST - HN&GĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024 vụ án " Tranh chấp ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Huỳnh C, sinh năm: 2000.
  2. Địa chỉ cư trú: Ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Có yêu cầu xét xử vắng mặt.

  3. Bị đơn: Anh Nguyễn Khánh L, sinh năm: 1995.
  4. Địa chỉ cư trú: Ấp C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 17/6/2014 nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh C trình bày: Vào năm 2019 chị và anh Nguyễn Khánh L tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang, hôn nhân do chị và anh L tự nguyện. Chị và anh L chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do thường xuyên cự cãi, chị và anh L đã ly thân từ năm 2020 đến nay. Do cuộc sống gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị C yêu cầu được ly hôn với anh L.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia Khánh T (nam), sinh ngày 08/10/2017 con chung hiện nay do anh L nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu đồng ý giao con chung cho anh L nuôi dưỡng, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên toà bị đơn anh Nguyễn Khánh L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất với lời trình bày của chị C về thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang là đúng. Anh và chị C chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do chị C bỏ nhà đi làm, anh không liên lạc được với chị C, anh và chị C đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay chị C yêu cầu ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Gia Khánh T (nam), sinh ngày 08/10/2017 con chung hiện nay do anh nuôi dưỡng, khi ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, chưa yêu cầu chị C cấp dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng: Đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh C có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt chị C.
  2. Về quan hệ pháp luật: Đây là vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
  3. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Huỳnh C và anh Nguyễn Khánh L kết hôn vào năm 2019 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện L, tỉnh Hậu Giang theo đúng quy định nên hôn nhân giữa chị C và anh L là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận là vợ chồng. Tuy nhiên chị C cho rằng chị và anh L chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do thường xuyên cự cãi, còn anh L cho rằng anh và chị C chung sống đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn tại phiên tòa anh L trình bày là do chị C bỏ nhà đi làm anh không liên lạc được, chị C yêu cầu ly hôn và anh L đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị C và anh L.
  4. Về con chung: Chị C và anh L có một con chung tên Nguyễn Gia Khánh T, sinh ngày 08/10/2017, con chung hiện nay do anh L nuôi dưỡng, khi ly hôn chị C đồng ý giao con chung cho anh L nuôi dưỡng, anh L đồng ý nuôi dưỡng cháu Khánh T nên Hội đồng xét xử giao cháu Nguyễn Gia K T cho anh L nuôi dưỡng là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, anh L chưa yêu cầu chị C cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.
  5. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.
  6. Về nợ chung: Chị C, anh L khai không có nên không xem xét.
  7. Đương sự còn phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
  8. Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, 28, 35, 147, 227, 228, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào Điều 9, 55, 57, 81, 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Huỳnh C và anh Nguyễn Khánh L.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Gia Khánh T (nam), sinh ngày 08/10/2017 cho anh Nguyễn Khánh L tiếp tục nuôi dưỡng. Anh L chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên chưa xem xét. Dành quyền, thăm, chăm sóc con chung cho chị Nguyễn Thị Huỳnh C không ai có quyền cản trở.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Huỳnh C, anh Nguyễn Khánh L khai không có nên không xem xét.

Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Huỳnh C phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), chuyển 300.000 đồng chị C đã nộp theo biên lai thu số 0010172 ngày 29/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Mỹ thành án phí. Chị C đã nộp xong.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Huỳnh C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú. Bị đơn anh Nguyễn Khánh L được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 17/9/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND h Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS h Long Mỹ;
  • - UBND xã Vĩnh Viễn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Lẫm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HN&GD-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 96/2024/HN&GD-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị c yêu cầu ly hôn với anh l
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger