Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÀM THUẬN BẮC

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 09/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC,

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Hơn

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đặng Văn Minh
  2. Ông Trần Văn Em

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn sang – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 92/2024/HSST ngày 08/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2024/QĐXXST-HS ngày 26/8/2024 đối với bị cáo:

Phạm Văn L, T gọi khác: Luận S; Sinh năm: 1978.

Nơi sinh: tỉnh Ninh Thuận.

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: 0/12.

Nghề nghiệp: Không.

Cha: Phạm Văn L1, sinh năm 1956;

Hiện trú tại xã P, huyện T, tỉnh Ninh Thuận.

Mẹ: Mai Thị Cẩm H (đã chết).

Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Vợ: Cao Thị Ái N, sinh năm 1981;

Hiện đang làm nông và trú tại khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Con: Có một người con, sinh năm 2003.

Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 13/4/2006, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 48 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 15/2006/HSST.

- Ngày 07/7/2006, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 36 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 35/2006/HSST.

- Ngày 12/7/2006, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 24 tháng tù, về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo điểm đ, khoản 2 Điều 250 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 40/2006/HSST, tổng hợp hình phạt với Bản án số 15/2006/HSST ngày 13/4/2006 của Tòa án nhân dân huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng (xử phạt 48 tháng tù), tổng hình phạt của 02 Bản án là 72 tháng tù.

- Ngày 23/01/2015, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 năm tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c và e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 03/2015/HSST.

- Ngày 13/4/2015, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 03 năm 6 tháng tù, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 23/2015/HSST. Tổng hợp hình phạt với Bản án số 03/2015/HSST ngày 23/01/2015 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai (xử phạt 04 năm tù), tổng hình phạt của 02 Bản án là 07 năm 06 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt về lại địa phương từ ngày 13/4/2022 (chưa được xóa án tích).

Nhân thân:

- Ngày 11/9/1998, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản của công dân” theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 203/HSST.

- Ngày 12/9/2000, Phạm Văn L bị Ủy ban nhân dân tỉnh N áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào Cơ sở giáo dục 24 tháng tại Quyết định số 4018/QĐ-UB ngày 12/9/2000 của Chủ tịch UBND tỉnh N.

- Ngày 26/8/2003, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 33/HSPT.

- Ngày 08/12/2004, Phạm Văn L bị Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự, tại Bản án số 51/HSST.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam từ ngày 25/02/2024 tại Nhà tạm giữ - Công an huyện H cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại: Bà Huỳnh Thị Bảo L2, sinh năm 1967(vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

*/Người làm chứng:

1/Ông Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1987(vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2/ Ông Tăng V, sinh năm 1985(vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn L, sinh năm 1978, trú tại khu phố A, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận là đối tượng đã có nhiều tiền án về tội: “Trộm cắp tài sản”. Tuy chưa được xóa án tích, Phạm Văn L đã tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản trên địa bàn huyện H, tỉnh Bình Thuận như sau: Do muốn có tiền để tiêu xài nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, Phạm Văn L đón xe buýt đi theo Quốc lộ A, hướng P - L. Khi đến khu vực Chợ P, thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H, L xuống xe đi bộ vào trong khu vực chợ với mục đích quan sát thấy ai sơ hở trong việc quản lý tài sản thì lấy trộm đem bán lấy tiền tiêu xài. L vào bên trong khu bán cá, thịt ở cuối chợ, L đứng quan sát đến khoảng 10 giờ cùng ngày thì phát hiện bà Huỳnh Thị Bảo L2, sinh năm 1967, trú tại khu phố P, thị trấn P đang dựng 01 xe mô tô biển số 86B3-440.08, nhãn hiệu Vision màu sơn đỏ, trên xe có cắm sẵn chìa khóa ở sạp bán hàng gần đó. Lợi dụng lúc bà L2 thiếu cảnh giác, L đã lén lút đến ngồi lên xe mô tô, mở khóa xe nổ máy và chạy về hướng khu dân cư sau Chợ P. Lúc này, ông Tăng V, sinh năm 1985, trú tại thôn A, xã H, huyện H phát hiện L trộm xe mô tô của người quen nên tri hô, gọi ông Huỳnh Thanh H1, sinh năm 1987, trú tại khu phố P, thị trấn P (đang ở gần đó) cùng đuổi bắt Phạm Văn L. Luận chạy được khoảng 50 mét thì bị ngã xe. Sau đó, L bỏ lại xe mô tô, chạy bộ vào đám thanh long để lẫn trốn thì bị ông H1 và V đuổi kịp, bắt giữ và đưa đến trụ sở Công an thị trấn P để xử lý. Công an thị trấn P đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Văn L.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐĐGTS, ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận:

01 xe mô tô, biển số 86B3-440.08, nhãn hiệu Honda, loại xe 2 bánh, số loại Vision, màu sơn đỏ, xe đăng kí lần đầu tháng 3/2016 đang hoạt động bình thường, tại thời điểm định giá ngày 25/02/2024, có trị giá là 8.500.000 đồng.

Vật chứng thu giữ và xử lý: 01 xe mô tô biển số 86B3-440.08, nhãn hiệu Honda, số loại Vision, màu sơn đỏ. Sau khi tạm giữ và làm rõ, Cơ quan CSĐT - Công an huyện H đã xử lý, trả cho bà Huỳnh Thị Bảo L2 là chủ sở hữu theo đúng quy định.

Về dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, bà Huỳnh Thị Bảo L2 không yêu cầu bồi thường gì.

Tại bản cáo trạng số 93/CT/VKSHTB ngày 05/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc truy tố bị cáo Phạm Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g, khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm g khoản 02 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa cũng như không có ý kiến về lời luận tội của kiểm sát viên đồng thời thừa nhận tòan bộ hành vi phạm tội và đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Đối với người bị hại, vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã lời khai trong quá trình điều tra nên không ảnh hưởng tới việc xét xử vụ án. Căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại.

[3] Căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai tại Cơ quan điều tra Công an huyện H, các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa. Đủ căn cứ pháp luật để kết luận: Phạm Văn L đang có nhiều tiền án chưa được xóa án tích, tại bản án số 03/2015/HSST ngày 13/4/2015 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T, tỉnh Ninh Thuận xác định bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “tái phạm” chưa được xóa án tích. Nhưng khoảng 10 giờ ngày 25/02/2024 tại khu vực Chợ P, thuộc khu phố P, thị trấn P, huyện H, Phạm Văn L lợi dụng không có người trông coi đã lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô, nhãn hiệu Vision, màu đỏ, biển số 86B3-440.08 của bà Huỳnh Thị Bảo L2 trị giá 8.500.000 đồng. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản của công dân mà còn tạo dư luận xấu, gây mất trật tự trị an cho xã hội thực hiện với lỗi cố ý.

Do vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g khoản 02 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo ý thức được quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã nhiều lần bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản thế nhưng với bản chất lười biếng, lười lao động muốn có tiền tiêu xài nên bị cáo đã lén lút trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu sài nên bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn khai báo với hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét đến nhân thân của bị cáo, thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, thực hiện hành vi phạm tội nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội thêm một thời gian để răn đe cải tạo giáo dục riêng và tuyên truyền phòng chống tội phạm chung.

[6] Về dân sự: Người bị hại bà Huỳnh Thị Bảo L2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng thể hiện trong quá trình điều tra bà đã nhận được tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Phạm Văn L 03(ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 25/02/2024.

Về án phí: Áp dụng: Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Phạm Văn L nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND huyện HTB;
  • - Công an huyện HTB;
  • - Chi cục THADS huyện Hàm Thuận Bắc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện HTB;
  • - Bị cáo; những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Hơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 09/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM THUẬN BẮC, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Luận - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger