|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/DS-ST Ngày: 07/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Đẹp
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đặng Văn Chiểu
- Bà Võ Tuyết Kha
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long: Bà Lý Thị Nhiên - Kiểm sát viên
Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử công khai vụ án thụ lý số 102/2024/TLST-DS ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 314/2024/QĐXXST - DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ: B -B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Đức Thạch D, chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Hiền T. Chức vụ: Trưởng phòng G.
Đại diện theo uỷ quyền lại: Anh Huỳnh Tứ P, chức vụ: Phó Phòng G. Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
Bị đơn: Ông Võ Văn Q, sinh năm 1976 và bà Phan Thị Kim L, sinh năm 1974; Địa chỉ: ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu.
(Anh Huỳnh Tứ P có đơn xin xét xử vắng mặt; ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Huỳnh Tứ P trình bày:
Ngày 05/5/2022, ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L có quan hệ tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh B – P1 (gọi tắt là Ngân hàng) theo Hợp đồng tín dụng số [...] (gọi tắt là Hợp đồng). Số tiền vay 50.000.000 đồng (Bằng chữ: Năm mươi triệu đồng).
- Lãi suất: 12%/năm
- Thời hạn vay: 24 tháng
- Thời điểm trả hết nợ: 05/05/2024
- Bảo đảm tiền vay: Không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay. Bằng hợp đồng cho vay, bên vay đồng ý không hủy ngang vô điều kiện cho S1 được toàn quyền xử lý (hoặc chỉ định bên thứ ba để xử lý) bất kỳ tài sản nào thuộc sở hữu của bên vay để thu hồi nợ trong trường hợp bên được cấp tín dụng vi phạm bất kỳ nghĩa vụ nào theo hợp đồng cho vay.
Trong quá trình vay, từ ngày giải ngân đến ngày 17/4/2024, ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi là 42.381.553 đồng (vốn gốc: 34.328.000 đồng, lãi: 8.053.553 đồng). Do Ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 06/10/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 17/04/2024 ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L có trách nhiệm phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền là 20.183.340 đồng (Hai mươi triệu một trăm tám mươi ba nghìn ba trăm bốn mươi đồng), trong đó:
- Nợ gốc: 15.672.000 đồng.
- Lãi: 4.511.340 đồng (lãi trong hạn: 4.000.000 đồng, lãi quá hạn: 511.340 đồng).
Mặc dù, Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc và yêu cầu ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L trả nợ, tuy nhiên ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L vẫn chưa thanh toán các khoản nợ quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông Võ Văn Q và bà Phan Kim L trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 17/4/2024 là 20.183.340 đồng, trong đó:
- Nợ gốc 15.672.340 đồng
- Lãi trong hạn: 4.000.000 đồng
- Lãi quá hạn: 511.000 đồng
- Tổng cộng: 20.183.340 đồng.
Ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 18/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Trong quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L đã được Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Thông báo về việc thu thập tài liệu, chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng ông Q và bà L vẫn không có mặt và cũng không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cho Tòa án.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước long phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc gửi Quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu chưa đúng quy định tại khoản 2 Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L, buộc ông Q và bà L có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền nợ tính đến hết ngày 17/4/2024 là 20.183.340 đồng (trong đó nợ gốc là 15.672.000 đồng, nợ lãi trong là 4.000.000 đồng, lãi quá hạn 511.340 đồng) và tiền lãi phát sinh từ ngày 18/4/2024 đến khi ông Q và bà L trả hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng.
- Về án phí: Buộc ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L trả số tiền vay còn nợ, đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, ông Q và bà L đang cư trú trên địa bàn huyện P nên căn cứ vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Ông Q, bà L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh P, ông Q và bà L là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung khởi kiện: Căn cứ hợp đồng tín dụng ngày 05/5/2022, giấy nhận nợ ngày 05/5/2022, phương án vay vốn, giấy đề nghị vay vốn ngày 05/5/2022, xác định ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L vay số tiền 50.000.000 đồng. Khi thực hiện hợp đồng, ông Q và bà L không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận của hợp đồng đã ký kết. Hiện tại, ông Q và bà L còn nợ Ngân hàng số tiền tính đến ngày 17/4/2024 là 20.183.340 đồng (Nợ gốc 15.672.000 đồng, lãi trong hạn 4.000.000 đồng, lãi quá hạn 511.340 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 18/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
[3] Quá trình tố tụng, tòa án đã tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để thông báo cho ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L biết về việc Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông, bà trả khoản tiền còn nợ. Tuy nhiên, ông Q và bà L không có ý kiến gì về việc ngân hàng yêu cầu trả nợ. Từ đó, cho thấy ông Q, bà L thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với Ngân hàng, đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 BLTTDS. Do đó,
[4] Xét thấy, ông Võ Văn Q và bà Phan Thị L ông Võ Văn Q và và bà Phan Thị L không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ đã giao kết trong hợp đồng là vi phạm hợp đồng đã ký kết với Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu ông Q, bà L trả số tiền tính đến ngày 17/4/2024 là 20.183.340 đồng (Nợ gốc 15.672.000 đồng, lãi trong hạn 4.000.000 đồng, lãi quá hạn 511.340 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 18/4/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợplà có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về án phí: Buộc ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 5, 26, 35, 39, 147, 217, 227, 228, 244, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L.
Buộc ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền tính đến hết ngày 17/4/2024 là 20.183.340 đồng (trong đó nợ gốc là 15.672.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 4.000.000 đồng, lãi quá hạn là 511.340 đồng).
Kể từ ngày 18/4/2024, ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đã ký kết.
2. Về án phí: Buộc ông Võ Văn Q và bà Phan Thị Kim L phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 1.009.000 đồng.
Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã nộp tạm ứng án phí số tiền 502.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006724 ngày 26 tháng 3 năm 2024 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được nhận lại.
3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Đẹp |
Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 96/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
