Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 31-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Nguyên và ông Đinh Tuấn Đạt

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Khương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 82/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Phạm Trung K (Tên gọi khác: Chó con) – sinh năm 1999, tại thành phố Cần Thơ

Nơi cư trú: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thành C – sinh năm 1976 và bà Nguyễn Thị Trúc L – sinh năm 1977; Chưa có vợ, con; Tiền án: Ngày 30/9/2021, tại Bản án số 115/2021/HS-ST bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 (Một) năm 08 (T) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 23/11/2022 chưa được xóa án tích; Tiền sự: Không;

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2023 (Có mặt)

2/ Nguyễn Quyết T1 (Tên gọi khác: Bon Bon) – sinh năm 2001, tại Lâm Đồng

Hộ khẩu thường trú: Thôn D, xã L, huyện B, tỉnh Lâm Đồng; Nơi cư trú: Khu F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn C1 – sinh năm 1979 và bà Đinh Thị Tuyết H – sinh năm 1980; Sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn với Nguyễn Thị Thùy T2 – sinh năm 2001, có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 23/02/2021, tại Quyết định số 308/QĐ-XPVPHC bị Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy;

Ngày 23/02/2024, tại Quyết định số 98/QĐ-CQĐT-ĐTTH bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai khởi tố bị can về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi;

Bị tạm giam từ ngày 23/4/2024 (Có mặt)

Người làm chứng: Chị Trung Nguyễn Thảo Q – sinh năm 2002 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 08 giờ 45 phút ngày 12/11/2023, tại phòng số 106 Nhà nghỉ H1 (Cầu H) thuộc tổ H, khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an thị trấn T, huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Trung K về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm: 01 chai nhựa Sting (thể tích 330ml) có 01 ống hút nhựa không màu và 01 ống thủy tinh gắn ở nắp chai màu đỏ; 01 kéo bằng kim loại; 01 túi nilong được cắt một đầu bên trong có chứa các tinh thể không màu; 02 điện thoại di động.

Tại bản Kết luận giám định số 2353/KL-KTHS ngày 21/11/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu chất màu vàng bám trong nỏ thủy tinh (Mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng. Mẫu chất bột màu trắng (Mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Mẫu dạng vết, không xác định được khối lượng”.

Quá trình điều tra làm rõ nội dung vụ án như sau:

Phạm Trung K và Nguyễn Quyết T1 là bạn bè quen biết với nhau. Khoảng 19 giờ ngày 11/11/2023, K điện thoại cho T1 thì được biết T1 đang thuê phòng ở phòng số 106 Nhà nghỉ H1 nên K đến chơi cùng T1 và được T1 đồng ý. Một lúc sau, T1 đi chơi cùng bạn gái nên không có mặt tại phòng số 106, lúc này K ở lại phòng 106 một mình. Đến 20 giờ cùng ngày, K điện thoại cho Lâm X (không rõ lai lịch) để mua ma túy. K đến hẻm đối diện nhà thờ T4 gặp Lâm X và mua ma túy với số tiền 300.000 đồng. Sau khi mua xong, K mang về phòng số 106 Nhà nghỉ H1. Tại đây, K đổ mua túy vừa mua ra dụng cụ tự chế rồi sử dụng. Sau đó, T1 quay lại phòng số 106, thấy có dụng cụ sử dụng ma túy trên bàn và trong nỏ thủy tinh có ma túy nên tự ý đến lấy ma túy để sử dụng; việc T1 sử dụng ma túy thì K có biết.

Sau khi sử dụng ma túy, K nói T1 cho mượn phòng 106 để đón bạn gái là T3 Nguyễn Thảo Q đến chơi, T1 đồng ý cho mượn phòng rồi đi về nhà ngủ. Lúc này, K gọi điện cho T3 Nguyễn Thảo Q rủ đến Nhà nghỉ H1 đi ăn. Khi Q điều khiển xe mô tô đến chở K đi ăn thì K một mình điều khiển xe mô tô của Q đến gặp Lâm X mua ma túy. Sau khi mua được ma túy, K chở Q vào phòng số 106. Tại đây, K tiếp tục sử dụng ma túy từ số ma túy mua vào tối ngày 11/11/2023, lúc này Q ngồi chơi chứ không sử dụng ma túy; T1 không biết việc sử dụng ma túy của K. Sau khi sử dụng ma túy xong, K chở Q về nhà Q tại khu I, thị trấn T. Khoảng 06 giờ ngày 12/11/2023, Q chở K tới phòng số 106 Nhà nghỉ H1 rồi đi về. Một lúc sau, T1 quay lại phòng 106 thì thấy có K ở trong phòng. T1 thấy trên bàn có dụng cụ sử dụng ma túy trên bàn và trong nỏ thủy tinh có ma túy nên tự ý đến lấy ma túy để sử dụng, rồi ngồi sử dụng điện thoại ở cửa phòng; liền đó K đi lại lấy dụng cụ sử dụng ma túy mà T1 vừa đốt nóng có chứa ma túy để sử dụng, T1 có chứng kiến việc sử dụng ma túy của K. Sau khi sử dụng ma túy xong, K đi vào khu vực xã P rồi quay trở về phòng số 106 Nhà nghỉ H1. Đến khoảng 08 giờ 30 phút Công an thị trấn T kiểm tra hành chính, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ tang vật như đã nêu trên. Tiến hành xét nghiệm chất ma túy thì xác định được K, T1 đều dương tính với chất ma túy.

Tại cơ quan điều tra, Phạm Trung K và Nguyễn Quyết T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Theo Cáo trạng số 91/CT-VKSTP-ĐN ngày 02/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố các bị cáo Phạm Trung K và Nguyễn Quyết T1 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự (bị cáo K) và khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự (bị cáo T1).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Trung K, xử phạt mức án từ 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng đến 08 (Tám) năm tù; áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quyết T1, xử phạt mức án từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng đến 03 (Ba) năm tù.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đã được niêm phong số 2533/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, 01 chai nhựa nắp chai màu đỏ, bên trên có gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh; 01 cây kéo, 01 bật lửa; tịch thu sung công quỹ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi, đồng ý với tội danh, mức hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, đề nghị là tương xứng đối với các bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thấy hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh:

Tại phiên tòa, các bị cáo không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ nào khác và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng; phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ như Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc, Sơ đồ hiện trường, Kết luận giám định, Biên bản đối chất... Như vậy, đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định:

Vào khoảng 19 giờ ngày 11/11/2023, tại Phòng số 106 Nhà nghỉ H1 thuộc khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Trung K có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ để Phạm Trung K, Nguyễn Quyết T1 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Vào khoảng 06 giờ ngày 12/11/2023, tại Phòng số 106 Nhà nghỉ H1 thuộc khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Phạm Trung K, Nguyễn Quyết T1 có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ, địa điểm để Phạm Trung K, Nguyễn Quyết T1 sử dụng trái phép chất ma túy loại Methamphetamine.

Hành vi của Phạm Trung K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; hành vi của Nguyễn Quyết T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng:

Bị cáo K có tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong hình phạt chính vào ngày 23/11/2022 chưa được xóa án tích quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 không có tình tiết tăng nặng.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T1 thể hiện thái độ thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; riêng bị cáo K thành khẩn khai báo nhưng do có tiền án về tội ma túy nên thể hiện thái độ không ăn năn hối cải. Tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Tiền sự, nhân thân:

Đối với bị cáo T1: Ngày 23/02/2021, tại Quyết định số 308/QĐ-XPVPHC bị Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy, đã nộp tiền; tính đến tháng 11/2023 thì được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính. Ngày 23/02/2024, tại Quyết định số 98/QĐ-CQĐT-ĐTTH bị Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Đồng Nai khởi tố bị can về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi.

[6] Căn cứ quyết định hình phạt:

Các bị cáo là người đã thành niên nhận thức đầy đủ về hành vi của mình; bị cáo K đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép ma túy, bị cáo T1 từng bị xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tuy nhiên sau khi chấp hành xong vẫn tiếp tục tái nghiện.

Nhận thấy, ngày 11/12/2023 sau khi sử dụng ma túy miễn phí mà không có đóng góp gì, T1 đã nhận thức được việc K có sử dụng phòng trọ của mình để làm nơi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 12/11/2023, T1 trực tiếp chứng kiến K sử dụng ma túy tại phòng trọ của T1 nhưng không có lời nói, hành động nào ngăn chặn, T1 nhận thức được hành vi của K và đã tiếp nhận việc K sử dụng phòng trọ của mình để làm nơi sử dụng trái phép chất ma túy.

Do đó, T1 có hành vi cung cấp địa điểm tổ chức cho K sử dụng trái phép chất ma túy, K có hành vi cung cấp ma túy tổ chức cho T1 sử dụng trái phép chất ma túy; với lỗi cố ý.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các chất ma túy của Nhà nước được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của các bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Hiện nay, ma túy đã và đang là mối quan tâm lo lắng trong toàn xã hội nói chung và trên địa bàn nói riêng. Việc tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy một phần là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm và hành vi phạm pháp luật khác, gây hủy hoại sức khỏe cho người sử dụng, khánh kiệt về kinh tế, giảm sút sức lao động sản xuất trong xã hội.

Đây là vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn, các bị cáo thống nhất ý chí cùng thực hiện hành vi phạm tội đối với lần sử dụng ma túy ngày 12/11/2023. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét đánh giá tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội và vai trò của từng người đồng phạm nhằm cá thể hóa hình phạt khi lượng hình như sau: Bị cáo K tham gia với vai trò chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội và thực hành, bị cáo T1 tham gia với vai trò thực hành cung cấp địa điểm. Như vậy, tính chất, mức độ hành vi phạm tội đối với bị cáo K cao hơn bị cáo T1.

Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức án đủ nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo đã gây ra để răn đe, cải tạo, giáo dục các bị cáo và đảm bảo công tác phòng ngừa tội phạm tại địa phương. Tuy nhiên, các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ như trên nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo pháp luật của Nhà nước.

Do đó, Hội đồng xét xử xem xét cách ly đối với các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo tự rèn luyện ý thức chấp hành pháp luật, tu dưỡng bản thân trở thành người công dân tốt sống có ích cho xã hội, đồng thời góp phần răn đe, phòng ngừa chung.

[7] Về áp dụng hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, đồng thời xem xét tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo, thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về biện pháp tư pháp:

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 2533/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, 01 chai nhựa nắp chai màu đỏ, bên trên có gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh; 01 cây kéo, 01 bật lửa là công cụ, phương tiện phạm tội và không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử xem xét tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo là công cụ, phương tiện phạm tội nên Hội đồng xét xử xem xét tịch sung vào ngân sách Nhà nước.

[9] Các vấn đề khác:

Đối với việc K khai nhận mua ma túy từ đối tượng tên “L”, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên chưa lấy được lời khai, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với Trung Nguyễn Thảo Q không có hành vi bàn bạc, chuẩn bị, không chứng kiến việc các bị can tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên không xử lý.

[10] Về án phí:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[11] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát:

phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo K; áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T1;
  • - Áp dụng Điều 38, khoản 1 Điều 46, Điều 47, Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự.
  • - Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • - Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Trung K, Nguyễn Quyết T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
    1. Xử phạt bị cáo Phạm Trung K 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/11/2023.
    2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quyết T1 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.
  2. Các biện pháp tư pháp:

    Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với Đối với 01 phong bì đã được niêm phong số 2533/KL-KTHS có dấu tròn đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ, 01 chai nhựa nắp chai màu đỏ, bên trên có gắn 01 ống hút và 01 ống thủy tinh; 01 cây kéo, 01 bật lửa. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).

  3. Về án phí: Các bị cáo Phạm Trung K, Nguyễn Quyết T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (Sửa đổi, bổ sung năm 2014).
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát ND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Tân Phú;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1.1 Xử phạt bị cáo Phạm Trung K 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/11/2023. 1.2 Xử phạt bị cáo Nguyễn Quyết T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/4/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger