|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 96/2024/HSST Ngày 11 tháng 7 năm 2024. |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trương Thị Lệ Thanh – Giáo viên trường THPT Tân Phú
- Bà Nguyễn Thị Liệu – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Nguyễn Thành Trung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Quán.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Định Quán đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 81/2024/HSST ngày 14 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89 /2023/QĐXXST-HS ngày 28/5/2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Võ Văn T - sinh ngày 09/5/2004, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Hồ Nhật H - sinh ngày 20/5/2006, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Phạm Văn Chí T1 - sinh ngày 19/9/2003, tại Vĩnh Long.
- Họ và tên: Trần Minh H1 - sinh ngày 20/9/2002, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Nguyễn Hoàng K - sinh ngày 27/10/1999, tại Đồng Nai;
- Họ và tên: Hồ Quang T3 - sinh ngày 17/11/2002, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Điểu Hoàng L2 - sinh ngày 11/11/2004, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Đinh Quốc C1 - sinh ngày 16/01/2005, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Tống Văn C2 - sinh ngày 13/3/2005, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Lâm Văn D1 - sinh ngày 27/01/2007, tại Đồng Nai.
- Họ và tên: Trần Minh T4 - sinh ngày 03/01/2007, tại Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Võ Văn C - sinh năm: 1978 và bà Tống Thị Đ - sinh năm: 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 06/01/2023, tạm giữ, tạm giam đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Hồ Văn P - sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị L - sinh năm: 1989; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 19/4/2023, tạm giữ, tạm giam đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn T2 - sinh năm: 1978 và bà Lê Thị Cẩm N - sinh năm: 1983; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 18/4/2023, tạm giữ, tạm giam đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Phật; Con ông Trần Nghĩa H2 - sinh năm: 1971 và bà Lý Thị S - sinh năm: 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 19/4/2023, tạm giữ, tạm giam cho đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Nguyễn Hoàng M - sinh năm: 1978 và bà Nguyễn Thị H3 - sinh năm: 1979; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 18/4/2023, tạm giữ, tạm giam cho đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Hồ Văn G - sinh năm: 1969 và bà Nguyễn Thị B - Sinh năm: 1975; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 19/4/2023, tạm giữ, tạm giam cho đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chơ ro; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Điểu H4 - sinh năm: 1987 và bà Thạch Thị H5 - sinh năm: 1985; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 19/4/2023, tạm giữ, tạm giam cho đến nay “có mặt”.
Nơi thường trú: Thôn H, xã I, huyện I, tỉnh Kom Tum (cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai); Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 06/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Đinh Văn D - sinh năm: 1974 và bà Tăng Thị Thu E - sinh năm: 1987; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 19/4/2023, tạm giữ, tạm giam cho đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Tống Văn N1 - sinh năm: 1962 và bà Dương Thị V - sinh năm: 1962; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 18/4/2023 và tạm giữ, giam cho đến nay “có mặt”.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Lâm Văn N2 - sinh năm: 1967 và bà Trịnh Ngọc M1 - sinh năm: 1972; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 18/4/2023, tạm giữ, tạm giam đến nay “có mặt”.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lâm Văn D1: Ông Lâm Văn N2 - sinh năm: 1967 và bà Trịnh Ngọc M1 - sinh năm: 1972; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 05/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Con ông Trần Minh Q - sinh năm: 1985 và bà Lê Thị Yến L1 - sinh năm: 1989; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt ngày 18/4/2023, tạm giữ, tạm giam cho đến nay “có mặt”.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Trần Minh T4: Ông Trần Minh Q - sinh năm: 1985 và bà Lê Thị Yến L1 - sinh năm: 1989; nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai.
Người bào chữa cho các bị cáo Trần Minh T4, Hồ Nhật H, Lâm Văn D1, Đinh Quốc C1, Tống Văn C2: Bà Bùi Thị M2 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ.
- Bị hại:
- + Anh Mai Xuân H6 - sinh năm: 2002, nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- + Anh Lù Hổ Tranh H7 - sinh ngày 22/11/2005, nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Văn P - sinh năm: 1977 và bà Nguyễn Thị L - sinh năm: 1989; Ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cuối năm 2022, qua mạng xã hội facebook, Võ Văn T có mâu thuẫn với nhóm Lù Hổ T, Mai Xuân H6; hai bên thách thức lẫn nhau và chọn địa điểm quán Bida “Hẻm Nhỏ” thuộc ấp D, xã T, huyện Đ để gặp nhau, giải quyết mâu thuẫn.
Khoảng 19 giờ 00 phút ngày 04/01/2023, Võ Văn T rủ Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3, Đinh Quốc C1, Trần Minh H1, Điểu H, Nguyễn Hoàng K, Hồ Nhật H tổ chức uống rượu tại nhà của T thuộc ấp A, xã T, huyện Đ. Trong lúc uống rượu, T nói mình có mâu thuẫn với Xuân H6, H7 và rủ cả nhóm đến quán B1 “Hẻm Nhỏ” tìm đánh nhóm H6, H7.
Tươi tự chuẩn bị hung khí, cả nhóm đi trên 04 xe mô tô, trong đó:
- C1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển số 60B4 – 859.68 chở T và N. Tươi cầm 01 dao tự chế dài 93cm, lưỡi dao dài 33cm; Nhật H cầm 01 dao phóng lợn dài 2m; C1 cầm 01 con dao tự chế dài 95cm, lưỡi dao dài 35cm.
- C2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu “Yamaha Sirius” (chưa rõ biển số) chở T4; T4 cầm 01 con dao dài 1,5m.
- L2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển số 60B4 – 873.64 chở D1 và T3; T3 cầm 01 lưỡi quắp dài 1,7m; D1 cầm 01 cây sắt vuông dài 0,7m; L2 cầm 01 dao lưỡi quắp dài 2m.
- H1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu “Honda Wave”, biển số 60B4 – 986.73 chở T1 và K; T1 cầm 01 dao cán gỗ dài 1,2m, lưỡi dài 40cm; K cầm 01 dao tự chế dài 1,5m, lưỡi dao dài 40cm.
Khi nhóm của T đến quán B2 “Hẻm Nhỏ” được một lúc thì Mai Xuân H6 điều khiển xe mô tô, biển số 60H6 – 220.05 chở Lù Hổ T đến. Giữa T và Xuân H6 đang cự cãi thì T cầm dao tự chế dài 93cm chém từ trên xuống dưới 01 phát vào đầu Xuân H6 đang đội mũ bảo hiểm làm vỡ nón bảo hiểm nhưng bị gãy dao. Tươi giật dao của C1 tiếp tục đuổi chém Xuân H6 nhưng không trúng; Xuân H6 chạy vào phòng ngủ trong nhà của quán B3 để trốn.
Thấy nhóm của T chém Xuân H6, Lù Hổ Tranh H7 dùng 01 cây cơ bida (có tại quán) đánh trả nhưng bị T dùng dao chém 01 nhát trúng vào tay trái của H7 gây thương tích. H7 bỏ chạy về hướng vườn xoài thì bị ngã vào 01 mương nước; T, C1, H6, K đuổi kịp, lúc này H6 vung dao chém 02 nhát về phía H7 nhưng không trúng. Thấy H7 bị ngã, T dùng cán dao đánh 02 cái vào lưng H7 nhưng thấy H7 bị thương, không kháng cự nên cả nhóm quay lại quán để tìm Xuân H6.
Không tìm được Xuân H6, T dùng dao tự chế chém 01 nhát vào đầu xe mô tô biển số 60H6 – 220.05 của Xuân H6 rồi cùng nhóm ra về. Sau đó, Xuân H6 và H7 được đưa vào bệnh viện cấp cứu.
Đến ngày 05/01/2023, T đến cơ quan Công an đầu thú; Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3, Đinh Quốc C1, Trần Minh H1, Điểu H, Nguyễn Hoàng K, Hồ Nhật H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra khởi tố về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
* Hậu quả:
- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0154/TgT/2023 ngày 28/02/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của nạn nhân Lù Hổ T như sau:
- Sẹo cánh – khuỷu – cẳng tay trái kích thước 17x0,3cm. Tỷ lệ: 02%.
- Sẹo mổ cánh tay trái kích thước 05x0,2cm. Tỷ lệ: 01%.
- Tổn thương nhánh thần kinh quay trái. Tỷ lệ: 13%.
- Tổn thương gãy 1/3 dưới thân xương cánh tay trái, hiện can xấu lệch trục. Tỷ lệ 25%.
- Tổn thương mẻ xương quay trái. Tỷ lệ: 01%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lù Hổ T, áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là: 37% (bút lục số 167 - 168).
- Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 0035/TgT/2023 ngày 13/01/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ, kết luận thương tích của nạn nhân Mai Xuân H6 như sau: Vết thương vùng trán đỉnh trái kích thước 08x0,2cm.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Mai Xuân H6, áp dụng theo thông tư là: 02% (bút lục số 148 - 149).
Tại bản cáo trạng số 119/CT-VKSÐQ ngày 30/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố các bị cáo Võ Văn T, Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3, Đinh Quốc C1, Trần Minh H1, Điểu H, Nguyễn Hoàng K và Hồ Nhật H về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, việc tranh tụng diễn ra như sau:
- Kiểm sát viên giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt:
- Bị cáo Võ Văn T từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù;
- Mỗi bị cáo Hồ Quang T3, Điểu H, Trần Minh H1, Nguyễn Hoàng K từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù;
- Mỗi bị cáo Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Đinh Quốc C1, và Hồ Nhật H từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù.
Kiểm sát viên còn phát biểu quan điểm về xử lý dân sự, vật chứng và án phí.
- Các bị cáo đều thành khẩn nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Trợ giúp viên pháp lý bà M2 có ý kiến: Các bị cáo Trần Minh T4, Hồ Nhật H, Lâm Văn D1, Đinh Quốc C1, Tống Văn C2 là người chưa thành niên phạm tội; phạm tội do trẻ người non dạ bộc phát và không trực tiếp gây ra thương tích gì cho
- Ông Hồ Văn P, bà Nguyễn Thị L: Không yêu cầu các bị cáo trả lại các khoản tiền đã bồi thường cho các bị hại.
- Ông Lâm Văn N2, bà Trịnh Ngọc M1, ông Trần Minh Q, bà Lê Thị Yến L1: Xin giảm nhẹ hình phạt cho con các ông, bà.
bị hại; đã tác động gia đình để bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại...Do đó, bà đồng ý với tội danh và loại hình phạt mà Kiểm sát viên đã nêu ra nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét dưới mức thấp nhất khung hình phạt để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị cáo Hồ Nhật H, Đinh Quốc C1, Tống Văn C2 khi phạm tội là người chưa thành niên nhưng tại thời điểm xét xử sơ thẩm thì đều đã thành niên nên không cần người đại diện nhưng vẫn được hưởng quyền trợ giúp pháp lý theo Luật trợ giúp pháp lý.
Các bị hại đã được triệu tập lệ 02 lần nhưng vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử.
[2] Căn cứ để kết tội đối với bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo Võ Văn T, Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3, Đinh Quốc C1, Trần Minh H1, Điểu Hoàng L2, Nguyễn Hoàng K và Hồ Nhật H đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; phù hợp với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán đã truy tố bị cáo nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 04/01/2023, tại quán bida “Hẻm Nhỏ” thuộc ấp D, xã T, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai, Võ Văn T, Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3, Đinh Quốc C1, Trần Minh H1, Điểu H, Nguyễn Hoàng K và Hồ Nhật H đã có hành vi dùng các loại dao tự chế và cây sắt vuông (là hung khí nguy hiểm) chém, đánh anh Lù Hổ Tranh H7 gây thương tích với tỷ lệ 37% và anh Mai Xuân H6 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%.
Do đó hành vi của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, thuộc trường hợp “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ
lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, không làm oan cho các bị cáo và cũng không bỏ lọt tội phạm.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
Xét thấy sức khỏe là vốn quý của con người được pháp luật bảo vệ nhưng các bị cáo lại dùng bạo lực để giải quyết mâu thuẫn không những đã trực tiếp gây thương tích cho anh H7 và anh Xuân H6 mà còn nguy hiểm cho xã hội; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nên Tòa án phải áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra.
Đây là vụ án đồng phạm với tính chất giản đơn, trong đó:
Bị cáo Võ Văn T là người đóng vai trò trung tâm thể hiện qua việc tổ chức uống rượu, bàn bạc phương thức gây án, rủ rê các bị cáo khác cùng thực hiện hành vi phạm tội. Chính bị cáo là người trực tiếp gây thương tích cho anh Lù H8 Tranh Hùng với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 37% anh Mai Xuân H6 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 02%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm nhất nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao nhất.
Bị cáo Hồ Nhật H ngoài việc giúp sức, tạo số đông lực lượng để ủng hộ tinh thần cho bị cáo T thì bị cáo H có hành vi vung dao chém 02 nhát về phía anh H7. Tuy bị cáo không gây thương tích cho anh H7 nhưng thể hiện bị cáo là người hung hăng nên phải chịu trách nhiệm tương xứng.
Các bị cáo Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3, Đinh Quốc C1, Trần Minh H1, Điểu H, Nguyễn Hoàng K tham gia bằng hành vi giúp sức, tạo số đông lực lượng để ủng hộ tinh thần cho bị cáo T gây thương tích cho anh H7 và anh Xuân H6. Mức độ nghiêm trọng của hành vi và hậu quả mà các bị cáo là ngang nhau nên trách nhiệm tương đương nhau.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thì thấy rằng:
Bị cáo Võ Văn T là người thành niên nhưng đã xúi giục Lâm Văn D1, Hồ Nhật H, Đinh Quốc C1, Tống Văn C2, Trần Minh T4 là những người chưa đủ 18 tuổi phạm tội. Do đó, bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải và đã bồi thường thiệt hại về mặt vật chất cho các bị hại nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Trước khi các bị cáo gây thương tích cho anh H7, anh Xuân H6 thì nhóm anh H7 đã gây hấn với nhóm các bị cáo nên hậu quả xảy ra có một phần lỗi của phía người bị hại; trong quá trình điều tra, bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo là các đối tượng chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội mang tính chất bộc phát nhất thời; Gia đình các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn; bị cáo Võ Văn T tự đầu thú; bị cáo Trần Minh T4, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3 và Hồ Nhật H có trình độ học vấn thấp; bị cáo Điểu Hoàng L2 là người dân tộc thiểu số; gia đình bị cáo H có công với Cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo.
Bị cáo Lâm Văn D1 khi phạm tội chỉ mới 15 tuổi 11 tháng 07 ngày; Bị cáo Hồ Nhật H khi phạm tội chỉ mới 16 tuổi 7 tháng 14 ngày; Bị cáo Đinh Quốc C1 khi phạm tội chỉ mới 17 tuổi 11 tháng 18 ngày; Bị cáo Tống Văn C2 khi phạm tội chỉ mới 17 tuổi 09 tháng 21 ngày; Bị cáo Trần Minh T4 khi phạm tội chỉ mới 16 tuổi 01 ngày nên đều là người chưa thành niên phạm tội nên Tòa án áp dụng các quy định tại Điều 90, 91,101 Bộ luật hình sự để lượng hình các bị cáo.
Ngoài ra tại Công văn số: 276/TANDTC-PC ngày 13/9/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015 được quy định tại khoản 2 Điều 54; Điều 58, Điều 65; Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 thì Tòa án được xét xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng như các quy định có lợi khác đối với người chưa thành niên. Đây là những quy định có lợi cho người phạm tội do chính sách pháp luật của nhà nước nên được áp dụng cho các bị cáo khi xem xét lượng hình.
[5] Về biện pháp tư pháp:
- Về trách nhiệm dân sự: Gia đình các bị cáo đã liên đới bồi thường cho bị hại Mai Xuân H6 số tiền 18.000.000đ; bồi thường cho bị hại Lù Hổ T số tiền 150.000.000đ. Anh H6, H7 đồng ý nhận tiền bồi thường, không yêu cầu gì thêm nên Tòa án ghi nhận các bên đã bồi thường xong (bút lục số 198 – 204).
- 01 dao tự chế dài 95cm; 01 dao tự chế dài 93cm; 01 lưỡi dao dài 40cm (bị gãy phần cán dao); 01 cây cơ bị da (bị gãy); 01 nón bảo hiểm màu trắng bị vỡ là vật chứng được thu giữ tại hiện trường, xét giá trị không lớn nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 dao phóng lợn dài 2m, lưỡi dao dài 30cm, cán dao tròn bằng kim loại dài 1,7m; 01 dao phóng lợn dài 1,5m, lưỡi dao dài 30cm, cán dao tròn bằng kim loại dài 1,2m; 01 dao tự chế dài 2m, lưỡi quắp dài 30 cm, cán tròn bằng kim loại dài 1,7m; 01 cây sắt vuông dài 0,7m; 01 dao tự chế dài 1m70, lưỡi quắp dài 30cm, cán dao bằng kim loại dài 1,4m; 01 dao tự chế dài 1,5m, lưỡi dao dài 40cm, cán tròn bằng kim loại dài 1,1m: Là hung khí gây án, sau đó vứt lại ở hiện trường và nhà hoang thuộc ấp D, xã T, huyện Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định truy tìm nhưng chưa thu hồi được nên không đặt ra xử lý.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade, biển số 60B4 – 859.68 là của bà Nguyễn Thị L (mẹ của bị can Hồ Nhật H). Ngày 04/01/2023, H tự ý lấy xe mô tô dùng vào việc phạm tội nhưng bà L không biết. Cơ quan CSĐT trả xe cho bà Nguyễn Thị L là đúng (Bút lục số 140).
- Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius (chưa xác định được biển số) là của anh Tống Văn P1 (là anh ruột của bị cáo C2). Sau khi xảy ra vụ việc anh P1 đã bán xe mô tô cho một người không rõ lai lịch; Cơ quan CSĐT không thu giữ được xe nên không đặt ra xử lý.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60B4 – 873.64 của bà Trịnh Ngọc M1 (là mẹ ruột của bị cáo D1). D1 tự ý lấy xe mô tô trên dùng vào việc phạm tội nhưng bà M1 không biết. Cơ quan CSĐT đã trả cho bà M1 là phù hợp nên miễn xét.
- Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 60B4 – 986.73 của anh Nguyễn Văn T5 (là anh rể của bị cáo H1). Sau khi xảy ra vụ việc, anh T5 đã bán xe mô tô cho một người không rõ nhân thân, lai lịch, Cơ quan CSĐT không thu giữ được nên không đặt ra xem xét.
- Đối với việc bị cáo Võ Văn T dùng dao chém 01 nhát vào xe mô tô, biển số 60H6 – 220.05 làm hư hỏng một số chi tiết. Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản số 18/KL-HĐĐGTS ngày 18/5/2023, kết luận: Tổng giá trị tài sản thiệt hại đối với xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Satria FI biển số 60H6 – 220.05 là 1.025.000đ nên hành vi của T chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Công an huyện Đ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với T số tiền 4.000.000đ về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ là đủ nghiêm.
[6] Về quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán: Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hợp tình, hợp lý nên được chấp nhận toàn bộ.
[7] Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật hình sự; Bị cáo Võ Văn T bị áp dụng thêm điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Các bị cáo Lâm Văn D1, Hồ Nhật H, Đinh Quốc C1, Tống Văn C2, Trần Minh T4 được áp dụng thêm Điều 90, 91,101 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Võ Văn T, Trần Minh T4, Tống Văn C2, Phạm Văn Chí T1, Lâm Văn D1, Hồ Quang T3, Đinh Quốc C1, Trần Minh H1, Điểu Hoàng L2, Nguyễn Hoàng K và Hồ Nhật H phạm tội: “Cố ý gây thương tích".
- Về hình phạt:
- Xử phạt bị cáo Võ Văn T 07 (bảy) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 06/01/2023.
- Xử phạt mỗi bị cáo Hồ Quang T3, Trần Minh H1, Điểu Hoàng L2, Nguyễn Hoàng K 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù của các bị cáo T3, H1, L2 tính từ ngày 19/4/2023; của bị cáo K tính từ ngày 18/4/2023.
- Xử phạt mỗi bị cáo Phạm Văn Chí T1, Hồ Nhật H 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù của bị cáo T1 tính từ ngày 18/4/2023; của bị cáo H tính từ ngày 19/4/2023.
- Xử phạt mỗi bị cáo Trần Minh T4, Lâm Văn D1, Đinh Quốc C1, Tống Văn C2 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù của các bị cáo T4, D1, C2 tính từ ngày 18/4/2023; của bị cáo C1 tính từ ngày 19/4/2023.
- Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Các bị cáo; Ông Lâm Văn N2, bà Trịnh Ngọc M1, ông Trần Minh Q, bà Lê Thị Yến L1, bà Bùi Thị M2; ông Hồ Văn P, bà Nguyễn Thị L được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Anh Mai Xuân H6; Lù Hổ T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Xuân Hòa |
Bản án số 96/2024/HSST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 96/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn T
