Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM GIẢNG

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 20/9/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Tố Uyên.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương Thuận và bà Nguyễn Thị Thúy
  • Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mùng - Thư ký Toà án
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2024/HSST ngày 28 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Đào Công Đ, sinh năm 2003; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Đăng ký hộ khẩu và cư trú: Thôn H, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Đào Công T, sinh năm 1981 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1983; có vợ là chị Phạm Thị Vân A, sinh năm 2004, có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/5/2024 đến ngày 21/5/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;
  2. Họ và tên: Nguyễn Thanh Y, sinh năm 1995. Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Đăng ký hộ khẩu và cư trú: Xóm T, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: Thôn Q, xã T, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Xuân M, sinh năm 1969 và bà Lê Thị T2, sinh năm 1971, có vợ là Nguyễn Thị N, sinh năm 1993, có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020. Tiền án: Bản án số 260/2022/HSST ngày 24/9/2022, Tòa án dân thành phố V xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023). Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/5/2024 đến ngày 21/5/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H;
  3. Họ và tên: Nguyễn Quang H, sinh năm 1996; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Nơi đăng ký hộ khẩu cư trú: Thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Con ông Nguyễn Quang T3, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1962, có vợ là chị Lê Thị H1, sinh năm 1995; có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 18/5/2024 đến ngày 21/5/2024 chuyển tạm giam, hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa;

* Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Xuân C, sinh năm 1986
  2. Anh Trần Đức T5, sinh năm 1996
  3. Anh Đào Công T6, sinh năm 1987

Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Đào Công Đ có mối quan hệ bạn bè xã hội với Nguyễn Thanh Y và Nguyễn Quang H, đều là người sử dụng ma túy tổng hợp. Khoảng 13 giờ ngày 17/5/2024, H đi xe ôm đến khu C, phường V, thành phố H tìm mua ma túy. Tại đây, H gặp và mua được 01 túi ma túy đá của một người đàn ông giới thiệu tên là K (không rõ địa chỉ) với số tiền 500.000 đồng. H mang túi ma túy về nhà sử dụng một phần, số ma túy còn lại H cất giấu với mục đích để bán cho người khác kiếm lời. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Đ đi xe môtô BKS 34B2-182.92 đến phòng trọ của Y ở thôn Q, xã T, huyện C chơi. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, Đ mượn điện thoại di động Redmi của Y, lắp sim số 0988225223 vào và đăng nhập zalo của Đ nhắn tin cho H đặt vấn đề mua ma túy. Sau đó, Đ rủ Y cùng đi mua ma túy về sử dụng đồng thời điều khiển xe môtô BKS 34B2-182.92 chở Y đến nhà H ở thôn Đ, xã C, huyện C Khoảng 19 giờ cùng ngày tại nhà của H, Y đứng ở sân còn Đ đi xe vào gặp H hỏi mua 01 túi ma túy đá với số tiền 800.000 đồng. Do không có tiền, Đ đã cắm xe môtô BKS 34B2-182.92 cho H lấy số tiền 2.000.000 đồng để mua ma túy 800.000 đồng và trả nợ H 100.000 đồng. H đồng ý, đưa cho Đ túi ma túy và 1.100.000 đồng, Đ gọi taxi cùng Y đi về. Do Y phải đi làm ca đêm nên Đ ở lại phòng trọ của Y chơi và hẹn sáng ngày 18/5/2024 khi Y đi làm về sẽ cùng sử dụng ma túy. Đến khoảng hơn 03 giờ sáng ngày 18/5/2024, Y đi làm về. Đ dùng điện thoại di động của Y nhắn tin zalo cho Trần Đức T5, sinh năm 1996, ở thôn H, xã C, huyện C (là bạn của Đ) rủ T5 đến phòng trọ của Y chơi thì T5 đồng ý.

Đ lấy bộ dụng sử dụng ma túy do Đ mang đến đặt xuống nền phòng trọ rồi đổ một phần ma túy vào cóong thủy tinh, dùng bật lửa hơ coóng tạo thành khói để Đ và Y sử dụng bằng hình thức hút ma túy vào cơ thể. Khoảng 04 giờ cùng ngày, T5 đi làm về và đến phòng trọ của Y. Đ bảo T5 ngồi sử dụng ma túy cùng đồng thời đổ hết túi ma túy vào coóng thủy tinh rồi Đ, T5, Y tự châm lửa và sử dụng. Đến 07 giờ cùng ngày, khi cả ba đang sử dụng ma túy thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ đục 02 lỗ, 01 lỗ nối với đoạn ống nhựa màu đỏ dạng sun, 01 lỗ gắn với coóng thủy tinh dài 16cm, bên trong coóng bám dính các hạt tinh thể màu trắng); 01 túi nilon dạng zip, kích thước (3x3)cm, phần đuôi túi bị xé, bên trong bám dính các hạt tinh thể màu trắng; 01 bật lửa ga; 01 điện thoại di động Redmi lắp sim số 0522128840 và sim số 0988225223. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Quang H tại thôn Đ, xã C, huyện C thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (gồm 01 chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ đục 02 lỗ, 01 lỗ nối với đoạn ống nhựa màu đen, 01 lỗ gắn với coóng thủy tinh dài 6cm, bên trong coóng bám dính các hạt tinh thể màu trắng); 01 túi nilon màu trắng viền màu đỏ, kích thước (1,5x1,5) cm, bên trong bám dính các hạt tinh thể màu trắng; 01 xe môtô Honda Wave BKS 34B2-182.92 và 01 điện thoại di động Redmi màu xanh lắp sim số 0963712682 của H.

* Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu tìm chất ma túy đối với Đào Công Đ, Nguyễn Thanh Y, Trần Đức T5 và Nguyễn Quang H đều dương tính với M1.

* Kết luận giám định số 257/KL-KTHS ngày 22/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Quá trình giám định tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong coóng thủy tinh và trong vỏ túi nilon màu trắng thu tại phòng trọ của Nguyễn Thanh Y và nhà của Nguyễn Quang H.

Quá trình điều tra xác định xe môtô BKS 34B2-182.92 là tài sản hợp pháp của anh Đào Công Tú, sinh năm 1981 (là bố của Đ) nên ngày 14/8/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Tó là chủ sở hữu.

* Về vật chứng vụ án: 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 túi nilon, 02 điện thoại di động và 01 bật lửa ga được quản lý tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng để xử lý trong giai đoạn xét xử và thi hành án.

Tại Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 28/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Đào Công Đ và Nguyễn Thanh Y về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự, bị cáo Nguyễn Quang H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội và không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả xét nghiệm chất ma túy và kết luận giám định nêu trên, đồng thời thừa nhận Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật được nêu trong nội dung bản Cáo trạng là hoàn toàn đúng.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo Đào Công Đ và Nguyễn Thanh Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Đào Công Đ từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng đến 8 (T7) năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 18/5/2024; Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Y từ 07 (Bẩy) năm 06 (Sáu) tháng đến 8 (T7) năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 18/5/2024; Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quang H từ 26 (Hai mươi sáu) tháng đến 29 (Hai mươi chín) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 18/5/2024; Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng; Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 túi nilon, 01 bật lửa ga, sim điện thoại số 0522.128.xxx, số 0988.225.223 và số 0963712682 (không còn tiền); Tịch thu phát mại sung quỹ nhà nước giá trị chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh và chiếc điện thoại di động O; Truy thu số tiền 800.000 đồng của bị cáo H nộp ngân sách nhà nước; Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, sớm trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt quả tang, biên bản khám xét, lời khai người làm chúng, vật chúng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 17/5/2024, tại nhà ở của Nguyễn Quang H, ở thôn Đ, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, H đã có hành vi bán trái phép 01 túi ma túy Methamphetamine với số tiền 800.000 đồng cho Đào Công Đ. Sau đó, trong khoảng thời gian từ 03 giờ đến 07 giờ sáng ngày 18/5/2024, tại phòng trọ của Nguyễn Thanh Y, ở thôn Q, xã T, huyện C, Đ và Y đã có hành vi chuẩn bị ma túy Methamphetamine, địa điểm, dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức sử dụng ma tuý cho nhau và cho Trần Đức T5, sinh năm 1996, ở thôn H, xã C, huyện C thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý, kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, tiếp tay cho hành vi mua bán, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, biết ma túy đang là hiểm họa của toàn xã hội, nó không những trực tiếp xâm hại đến sức khỏe về tinh thần, thể chất và tài sản của người sử dụng, gây lo lắng, buồn phiền cho những người thân trong gia đình, mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo Đ, Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt “đối với hai người trở lên” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương truy tố đối với các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Đào Công Đ thừa nhận là người khởi xướng, chuẩn bị tiền mua ma túy và dụng cụ sử dụng ma túy nên giữ vai trò thứ nhất, bị cáo Nguyễn Thanh Y đồng phạm giữ vai trò thứ hai đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Nguyễn Quang H phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Về tình tiết tăng nặng TNHS: Bị cáo Nguyễn Thanh Y đã bị Tòa án dân thành phố V xử phạt 12 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, mới chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/5/2023. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, đã bị kết án chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, coi thường pháp luật nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo Đ và H không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ TNHS: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo khai báo thành khẩn hành vi phạm tội nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Hội đồng xét xử xem xét đánh giá vị trí vai trò của từng bị cáo, cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt tương xứng với hành vi của từng bị cáo đã thực hiện.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có tài sản và đang bị tạm giam nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng:

  • - Đối với 01 điện thoại di động Redmi màu xanh của bị cáo H và 01 điện thoại di động Redmi của Y. Xét các bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ nhà nước theo qui định của pháp luật;
  • - Đối với các sim số 0963712682 của bị cáo H; sim số điện thoại 0522.128.xxx của Y và sim số điện thoại 0988.225.xxx của Đ, các bị cáo đều xác định sim không có tiền trong các tài khoản sim nói trên, cần tịch thu tiêu hủy theo qui định của pháp luật;
  • - Đối với 02 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, 02 túi nilon, 02 điện thoại di động và 01 bật lửa ga là những dụng cụ sử dụng trái phép chất ma túy cần tịch thu cho tiêu hủy.
  • - Đối với số tiền 800.000₫ bị cáo H bán ma túy cho Đ là do phạm tội mà có nên cần truy thu sung quỹ nhà nước theo qui định.

[8] Về án phí: Các bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về những vấn đề khác:

  • - Đối với người đàn ông tên K bán ma túy cho Đ không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ xử lý;
  • - Anh Đào Công Tó (là bố của Đ) có cho Đ mượn chiếc xe môtô BKS 34B2-182.92 là tài sản hợp pháp của anh Tó nhưng không biết Đ đã cắm xe môtô này cho H lấy số tiền 2.000.000 đồng mua ma túy 800.000 đồng và trả nợ H 100.000 đồng nên ngày 14/8/2024 Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu tài sản hợp pháp là anh T6;
  • - Đối với Trần Đức T5, sinh năm 1996, ở thôn H, xã C, huyện C, là bạn của Đ được Đ rủ đến phòng trọ của Y chơi sau đó Đ bảo T5 ngồi tham gia sử dụng ma túy cùng Đ và Y nhưng không được bàn bạc thống nhất nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với T5;
  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đào Công Đ, Nguyễn Thanh Y, Trần Đức T5 và Nguyễn Quang H, ngày 23/5/2024 Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Công Đ, Nguyễn Thanh Y; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thanh Y;

Căn cứ áp dụng khoản 1 Điều 251; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Quang H;

Căn cứ áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 qui định về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc Hội đối với bị cáo Đ, Y và H.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đào Công Đ, Nguyễn Thanh Y phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Bị cáo Nguyễn Quang H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
  2. Về hình phạt:
    • - Xử phạt Đào Công Đ 07 (Bẩy) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/5/2024.
    • - Xử phạt Nguyễn Thanh Y 07 (Bẩy) năm 05 (Năm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/5/2024.
    • - Xử phạt Nguyễn Quang H 25 (Hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 18/5/2024.
  3. Về xử lý vật chứng:
    • 3.1. Tịch thu phát mại lấy giá trị sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi note12, màu xanh của Nguyễn Thanh Y; 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi, màu xanh Model M2101K7AG của H.
    • 3.2. Truy thu của bị cáo Nguyễn Quang H số tiền 800.000₫ (Tám trăm ngàn đồng) sung quỹ nhà nước;
    • 3.3. Tịch thu tiêu hủy sim số 0522.128.840 và 0988.225.223 của bị cáo Y và lắp sim số 0963712682 của bị cáo H (các sim đều không còn tiền trong tài khoản sim);
    • 3.4. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp bìa carton ký hiệu T1, số niêm phong 257/KL-KTHS, bên trong có 01 vỏ chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ được đục 02 lỗ, một lỗ gắn với ông nhựa màu đỏ, một lỗ được gắn với cóong thủy tinh, 01 vỏ túi nilon màu trắng, phần đuôi túi bị xé; 01 bật lửa gas màu đỏ, đầu lửa được gắn một đoạn kim loại;
    • 3.5. Tịch thu tiêu hủy 01 (một) hộp bìa carton ký hiệu T2, số niêm phong 257/KL-KTHS, bên trong có 01 vỏ chai nhựa màu trắng, nắp chai màu đỏ được đục 02 lỗ, một lỗ gắn với ông nhựa màu đen, một lỗ được gắn với cóong thủy tinh, 01 vỏ túi nilon màu trắng, viền khóa màu đỏ.

    (Tình trạng và đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/9/2024 giữa Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng).

  4. Về án phí: Buộc mỗi bị cáo (Đ, Y, H) phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (20/9/2024)./.

Nơi nhận:

  • - Những người tham gia tố tụng,
  • - VKSND huyện Cẩm Giàng,
  • - Công an huyện Cẩm Giàng (CQCSĐT; CQ THA hình sự, Bộ phận HS nghiệp vụ);
  • - Chi cục THADS huyện Cẩm Giàng,
  • - VKSND tỉnh Hải Dương,
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương,
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TA cấp cao tại HN
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

Trương Thị Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIẢNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đào Công Đạt + đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger