Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 19 - 4 - 2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Ngọc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Minh Sơn
  2. Ông Phạm Quang Vinh

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Trung Dũng - Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 75/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2024/HSST-QĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đối với các bị cáo:

1. Bị cáo Nguyễn Xuân L, sinh năm: 1993, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ dân phố P, thị trấn D, Đ, Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố P, thị trấn D, Đ, Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C và bà Lê Thị Thu H; bị cáo chưa có vợ, con; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang tại ngoại tại tổ dân phố P, thị trấn D, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt tại phiên tòa.

2. Bị cáo Cil V, sinh năm: 1986, tại: Lâm Đồng; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: tổ A, thôn A, xã T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở hiện nay: số G, đường N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Lạch; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sơ Ao Đ và bà Cil Y; chồng Lương Văn H1, sinh năm: 1986; bị cáo có 03 người con; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không.

Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang tại ngoại tại số G, đường N, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Bà Hoàng Thị Minh P, sinh năm: 1980; địa chỉ: tổ A T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
  • + Bà Vũ Thị Đ1, sinh năm: 1980; địa chỉ: số C, đường N, Phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
  • + Bà Nguyễn Thị Xuân T, sinh năm: 1982; địa chỉ: số C, đường N, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt,
  • + Ông Hoàng Quốc M, sinh năm: 1969; địa chỉ: tổ A T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.
  • + Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm: 1967; địa chỉ: tổ A T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 11/01/2023, bà Hoàng Thị Minh P, hộ khẩu thường trú: tổ A T, xã H, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng nhờ bạn là bà Vũ Thị Đ1, hộ khẩu thường trú số 33, đường N, Phường C, thành phố Đ nhờ hỏi vay số tiền là 350.000.000đ. Bà Đ1 đồng ý rồi liên lạc hỏi vay Cil V và Nguyễn Xuân L thì được V, L đồng ý và thỏa thuận mức lãi suất là 31.500.000đ/tháng (tương đương 9%/tháng).

Ngày 15/01/2023, L cùng V đến nhà của chị gái L là bà Nguyễn Thị Xuân T, trú tại số C, đường N, Phường G, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng hỏi vay số tiền 350.000.000đ thì được bà T đồng ý cho vay số tiền này trong vòng 20 ngày và không lấy lãi. Đến ngày 17/01/2023, tại nhà bà Đ1, địa chỉ số C, đường N, Phường C, thành phố Đ, L, V, bà P và bà Đ1 cùng ký giấy vay số tiền 350.000.000đ với tiền lãi thỏa thuận là 31.500.000đ/tháng trong thời hạn 01 tháng. Sau khi thỏa thuận cho bà P vay tiền, L chuyển khoản số tiền 300.000.000đ vào tài khoản ngân hàng cá nhân của V rồi V chuyển khoản số tiền này vào tài khoản của bà P theo tài khoản số 0561000593470 - Ngân hàng V1. Lai đưa cho bà P 50.000.000đ tiền mặt đồng thời giữ 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK438733 do UBND huyện D cấp ngày 17/5/2012 của vợ chồng bà P và 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX117671 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 25/9/2020 của anh trai bà P là ông Hoàng Quốc M để làm tin. Sau khi nhận tiền, bà P có đưa trước tiền lãi 01 tháng cho L và V là: 31.500.000đ, L nhận 20.000.000đ và đưa cho V 11.500.00₫.

Khoảng 01 tháng sau, do chưa trả được tiền gốc, bà P đề nghị với L cho trả tiền lãi hàng tháng đến khi trả xong tiền gốc. Nghe vậy, L gặp bà T thỏa thuận cho bà P vay tiền với mức lãi suất là 20.000.000đ/tháng mà không cho bà T biết số tiền lãi thực tế bà P phải trả cho L, V là: 31.500.000đ thì bà T đồng ý. Sau khi L đồng ý cho bà P tiếp tục vay tiền, từ tháng 01/2023 đến tháng 04/2023, bà P đã trả lãi cho L, Viễn 04 lần tổng cộng 126.000.000đ. Trong đó: L nhận 80.000.000đ rồi đưa hết cho bà T, còn V nhận 46.000.000đ. Số tiền mà L, V thu lợi bất chính là 102.666.667₫. Ngày 24/4/2023, sau khi bị L, V đe dọa đòi nợ, bà Đ1 trình báo việc L, V cho vay lãi nặng đến Công an P1, thành phố Đ. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ triệu tập Nguyễn Xuân L, Cil Viễn làm việc, L, V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 117671 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 25/9/2020 cho ông Hoàng Quốc M.
  • - 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BK 438733 do UBND huyện D cấp ngày 17/5/2012 cho bà Hoàng Thị Minh P, ông Nguyễn Văn H2.
  • - 01 (một) căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/8/2021 mang tên Vũ Thị Đ1.
  • - 01 (một) Giấy mượn tiền giữa bà Hoàng Thị Minh P và Nguyễn Xuân L ngày 17/01/2023.

Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKS ngày 31/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2, Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đã truy tố. Các bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2, Điều 201 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V mỗi bị cáo từ 06 - 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 - 18 tháng. Phạt bổ sung mỗi bị cáo số tiền từ 30.000.000₫ - 50.000.000đ.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

  • - Lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) Giấy vay mượn tiền giữa bà Hoàng Thị Minh P và ông Nguyễn Xuân L.
  • - Trả lại cho bà Vũ Thị Đ1 01 (một) căn cước công dân số: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/8/2021 mang tên Vũ Thị Đ1.
  • - Trả cho bà Hoàng Thị Minh P 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CX117671 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 25/9/2020; 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BK 438733 do UBND huyện D cấp ngày 17/5/2012.
  • - Đối với số tiền lãi vượt quá quy định là 102.666.667đ, đây là khoản tiền các bị cáo thu lợi bất chính nên buộc các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V liên đới trả lại cho bà Hoàng Thị Minh P.
  • - Đối với số tiền nợ gốc là 350.000.000đ, bà P chưa trả cho các bị cáo, đây là khoản tiền các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên truy thu, buộc bà Hoàng Thị Minh P nộp sung vào Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền lãi hợp pháp các bị cáo thu của người vay là 23.333.333đ, đây là khoản tiền thu được từ hoạt động phạm tội của các bị cáo nên buộc các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V liên đới nộp sung vào Ngân sách Nhà nước.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Xuân L: Bị cáo xin nhận lại số tiền 350.000.000đ hiện nay bà P chưa trả cho bị cáo để bị cáo có tiền trả cho bà Nguyễn Thị Xuân T vì hiện nay bị cáo rất khó khăn và bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Lời nói sau cùng của bị cáo Cil V: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bà P trả lại số tiền gốc còn nợ để các bị cáo có tiền trả cho bà T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên toà, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị Đ1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy, quá trình điều tra bà Đ1 đã có lời khai đầy đủ tại Cơ quan điều tra. Do đó, căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Ngày 17/01/2023 tại số C, đường N, Phường C, thành phố Đ, các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V đã cho bà Hoàng Thị Minh P vay số tiền 350.000.000₫ với mức lãi suất 9%/tháng, cao hơn mức lãi suất theo quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự và thu lợi bất chính số tiền 102.666.667₫.

[4] Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V đã phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Về quyết định hình phạt: Xét thấy hiện nay, hành vi cho vay lãi nặng đang có xu hướng gia tăng và lan rộng, là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự, mất ổn định xã hội, làm ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Bản thân các bị cáo đều là người đã thành niên, có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi cho vay lãi nặng là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng chỉ vì tư lợi cá nhân mà các bị cáo đã cố ý thực hiện, thể hiện sự xem thường pháp luật của các bị cáo. Hành vi của các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ mà còn làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân và mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Trong vụ án này bị cáo Nguyễn Xuân L là người trực tiếp giao dịch cho bà Hoàng Thị Minh P vay tiền và cũng hưởng số tiền lãi nhiều hơn bị cáo Cil V, bị cáo Cil V đóng vai trò đồng phạm, giúp sức cho bị cáo L nên bị cáo L phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo V mới tương xứng với vai trò của từng bị cáo đã gây ra. Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân của các bị cáo, xét hiện nay các bị cáo có nơi cư trú ổn định, địa chỉ rõ ràng, quá trình giải quyết vụ án không có biểu hiện sai phạm hay vi phạm pháp luật gì khác nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng mà chỉ cần xử phạt bằng hình thức phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về biện pháp tư pháp:

[7.1] Đối với số tiền gốc 350.000.000đ bị cáo L sử dụng vào việc cho vay. Xét thấy, đây là phương tiện bị cáo L sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay số tiền gốc 350.000.000₫ bà Hoàng Thị Minh P vẫn chưa trả cho bị cáo L nên cần buộc bà Hoàng Thị Minh P phải nộp số tiền 350.000.000đ này để tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.

[7.2] Tổng số tiền lãi các bị cáo đã thu của bà P là 126.000.000đ, trong đó số tiền lãi theo quy định là 23.333.333đ, số tiền lãi vượt quá quy định là 102.666.667đ. Trong số tiền lãi trên bị cáo V nhận 46.000.000đ, bị cáo L nhận 80.000.000đ nhưng bị cáo L đã đưa toàn bộ số tiền lãi này cho bà Nguyễn Thị Xuân T.

Đối với số tiền lãi theo quy định các bị cáo đã thu của bà Hoàng Thị Minh P là 23.333.333đ. Xét thấy, đây là khoản tiền thu được phát sinh từ tội phạm nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước nên cần buộc bị cáo Cil V phải nộp số tiền lãi phát sinh từ tội phạm là 23.333.333đ để tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước.

Đối với số tiền lãi vượt quá quy định là 102.666.667đ các bị cáo đã thu của bà Hoàng Thị Minh P. Tại phiên tòa, bà P yêu cầu được nhận lại số tiền trên. Xét thấy, đây là số tiền lãi vượt quá quy định các bị cáo thu lợi bất chính từ bà P nên cần buộc các bị cáo phải trả lại số tiền đã thu trên cho bà P. Tại phiên tòa, bị cáo L và bà T đều thừa nhận hiện nay bà T đang giữ số tiền lãi 80.000.000đ bị cáo L đã nhận của bà P nên cần buộc bà Nguyễn Thị Xuân T phải có trách nhiệm trả lại cho bà Hoàng Thị Minh P số tiền 80.000.000đ và bị cáo Cil V phải có trách nhiệm trả lại cho bà P số tiền lãi vượt quá quy định là 22.666.667đ (tổng số tiền bị cáo V nhận là 46.000.000₫ – 23.333.333đ tiền lãi quy định phải nộp sung ngân sách nhà nước = 22.666.667đ).

Đối với số tiền 3.500.000đ, bà P cho rằng đã cho các bị cáo tiền phí xăng xe, các bị cáo không thừa nhận đã nhận số tiền này, bà P cũng không có chứng cứ chứng minh cho lời trình bày trên của mình là có căn cứ. Tại phiên tòa bà P không có yêu cầu gì đối với số tiền trên nên không đặt ra để xem xét, giải quyết.

[7.3] Trong vụ án này có bà Nguyễn Thị Xuân T đồng ý thỏa thuận cho bà P vay số tiền 350.000.000đ thông qua bị cáo Nguyễn Xuân L với mức lãi suất 5,7%/tháng. Đây là mức lãi suất chưa đủ định lượng để xử lý hình sự nên không có cơ sở xử lý bà T đối với khoản vay này.

Đối với việc bà Nguyễn Thị Xuân T cho bị cáo Nguyễn Xuân L vay số tiền 350.000.000đ, đây là giao dịch dân sự giữa bà T và bị cáo L. Các bên tự thỏa thuận giải quyết với nhau. Trường hợp thỏa thuận không được và phát sinh tranh chấp thì các bên có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác nên không đặt ra để giải quyết trong vụ án này.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (một) Giấy mượn tiền giữa bà Hoàng Thị Minh P và bị cáo Nguyễn Xuân L ngày 17/01/2023, đây là chứng cứ quan trọng liên quan đến việc các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 117671 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 25/9/2020 cho bà Đào Thị B, cập nhật biến động trang 04 sang tên ông Hoàng Quốc M ngày 02/11/2020, bà P cầm cố khi vay tiền của các bị cáo, đây là tài sản hợp pháp của ông M nên cần tuyên trả cho ông Hoàng Quốc M.

Đối với 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BK 438733 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 17/5/2012 cho ông Nguyễn Văn H2, bà Hoàng Thị Minh P, bà P cầm cố khi vay tiền của các bị cáo nên cần tuyên trả cho ông Nguyễn Văn H2, bà Hoàng Thị Minh P.

Đối với 01 (một) căn cước công dân số: [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/8/2021 mang tên Vũ Thị Đ1, là giấy tờ tùy thân của bà Vũ Thị Đ1 nên cần tuyên trả cho bà Vũ Thị Đ1.

[9] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Xuân L; Cil Viễn phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Áp dụng khoản 2 Điều 201 ; Điều 35; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân L số tiền 230.000.000₫ (Hai trăm ba mươi triệu đồng).

- Xử phạt bị cáo Cil V số tiền 200.000.000₫ (Hai trăm triệu đồng).

[2]. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2.1]. Về biện pháp tư pháp:

  • - Buộc bà Hoàng Thị Minh P phải nộp lại số tiền gốc chưa trả là 350.000.000₫ (Ba trăm năm mươi triệu đồng) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Cil V phải nộp số tiền lãi phát sinh từ tội phạm là 23.333.333₫ (Hai mươi ba triệu ba trăm ba mươi ba ngàn ba trăm ba mươi ba đồng) để tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Cil V có trách nhiệm trả lại cho bà Hoàng Thị Minh P số tiền lãi vượt quá quy định là 22.666.667₫ (Hai mươi hai triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi bảy đồng).
  • - Buộc bà Nguyễn Thị Xuân T có trách nhiệm trả lại cho bà Hoàng Thị Minh P số tiền là 80.000.000đ (Tám mươi triệu đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[2.2]. Về xử lý vật chứng:

  • - Lưu hồ sơ vụ án 01 (một) Giấy mượn tiền giữa bà Hoàng Thị Minh P và Nguyễn Xuân L ngày 17/01/2023.
  • - Trả cho ông Hoàng Quốc M 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CX 117671 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh L cấp ngày 25/9/2020 cho bà Đào Thị B, cập nhật biến động trang 04 sang tên ông Hoàng Quốc M ngày 02/11/2020.
  • - Trả cho ông Nguyễn Văn H2, bà Hoàng Thị Minh P 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số BK 438733 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 17/5/2012 cho ông Nguyễn Văn H2, bà Hoàng Thị Minh P.
  • - Trả cho bà Vũ Thị Đ1 01 (một) căn cước công dân số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 12/8/2021 mang tên Vũ Thị Đ1.

(Các vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/02/2024 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đà Lạt).

[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Nguyễn Xuân L và Cil V mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án, (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ được kháng cáo đối với phần trực tiếp liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lâm Đồng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;
  • - VKSND tp. Đà Lạt;
  • - Công an tp. Đà Lạt;
  • - Nhà tạm giữ CA tp. Đà Lạt;
  • - Chi cục THADS tp. Đà Lạt;
  • - Bị cáo;
  • - Bộ phận theo dõi thi hành án phạt tù;
  • - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Thúy Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ LẠT - TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân L, Cil V cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger