Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-PT

Ngày: 18/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Việt Hùng

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang.

Bà Nguyễn Thị Hương Giang.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Phan Thị Diễm H - Kiểm sát viên.

Ngày 18/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 71/2024/TLPT-HS ngày 08/3/2024 đối với các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D do có kháng cáo của các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D đối với bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

* Bị cáo có kháng cáo:

  1. Lê Minh T, sinh năm 1996; tại huyện T, tỉnh Bắc Giang. Nơi ĐKHKTT: Số nhà B, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Minh T2; và bà: Nguyễn Thị H1; có vợ: Hà Thị Q; con: Chưa có; tiền sự, tiền án: Không; Nhân thân: Tại bản án số 68/2017/HSST ngày 20/6/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự. (Tài sản bị trộm cắp có giá trị 8.000.000 đồng). Ngày 02/11/2017 đã chấp hành xong bản án; đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, không phải bồi thường.

    - Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B (có mặt).

  2. Vi Mạnh T1, sinh năm 1997; tại huyện Y, tỉnh Bắc Giang

    Nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 11/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Vi Văn X; và bà: Tạ Thị H2; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B (có mặt).

  3. Nguyễn Trung D, sinh năm 1991; tại tại huyện H, tỉnh Lạng Sơn

    Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh ; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn H3; và bà: Nguyễn Thị Q1; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

    Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/11/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam- Công an tỉnh B (có mặt).

Trong vụ án còn có bị cáo Bùi Tiến D1, Bùi Văn A, Mai Thị Hoài L có kháng cáo. Ngày 20/2/2024, bị cáo D1 có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Ngày 29/5/2024, bị cáo L và bị cáo A có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo.

Ngoài ra trong vụ án còn có 08 bị cáo khác, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nhận được tin báo tố giác về tội phạm của quần chúng nhân dân về việc Quán 268 thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang có dấu hiệu “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/11/2022, Tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang tiến hành kiểm tra tại quán B thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang tại phòng 301, 302, 401 của quán 268 các đối tượng đang thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cụ thể như sau:

  • * Hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” tại phòng 301, như sau:

    Hồi 04 giờ 40 phút ngày 12/11/2022, tại phòng 301, quán B thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn N- sinh năm 1984, trú tại thôn Ả, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho Đàm Thị Thu H4- sinh năm 2001, trú tại thôn C, xã H, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vật chứng thu giữ gồm: T3 tại sập trong phòng 301: 01 chiếc đĩa sứ màu trắng bên trên mặt đĩa có chất bột màu trắng nghi là chất ma túy tổng hợp; 01 ống nhựa màu đen; 01 thẻ bằng nhựa hình chữ nhật có chữ Viettet màu trắng- đỏ; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu vàng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen và số tiền 300.000 đồng. Ngoài ra, thu trong phòng 301: 04 loa nghe nhạc, 01 đèn nháy, 01 đèn chớp, 01 máy chiếu, 01 khò ga mini. Tổ công tác Công an huyện V lập biên bản niêm phong vật chứng thu giữ như sau: Chất bột màu trắng được cho vào túi nilon sạch sau đó cho vào phong bì giấy dán kín niêm phong ký hiệu “QT301A”; 01 chiếc đĩa sứ màu trắng, 01 ống nhựa màu đen; 01 thẻ bằng nhựa hình chữ nhật có chữ Viettet màu trắng đỏ tất cả được cho vào trong túi nilon buộc lại, cho vào trong thùng bìa catton dán kín niêm phong có ký hiệu “QT301B”; 01 điện thoại Iphone màu vàng, 01 điện thoại Nokia màu đen, số tiền 300.000 đồng được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT301C”.

    Ngày 12/11/2022, Công an huyện V test nhanh bằng que test nước tiểu đối với Nguyễn Văn N và Đàm Thị Thu H4. Kết quả N, H4 đều dương tính với chất ma túy MDMA, K và M.

    Tại bản kết luận giám định số 2104/KL-KTHS ngày 17/11/2022 của Phòng K1- Công an tỉnh B kết luận:

    • - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT301A” đã niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon là ma túy, có khối lượng 0,624 gam, loại Ketamine.
    • - Trong 01 (một) thùng cát tông ký hiệu “QT301B” đã được niêm phong gửi giám định:
      • + Trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
      • + Trong 01 (một) ống hút bằng nhựa màu đen có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
      • + Trên 01 (một) thẻ nhựa hình chữ nhật có chữ V2 màu trắng đỏ có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.

    Quá trình điều tra, Nguyễn Văn N khai nhận về hành vi “Tổ chức trái phép chất ma túy” như sau: Khoảng 23 giờ ngày 11/11/2022, Nguyễn Văn N một mình điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P3- 5766 đến chợ M2, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V) để gặp bạn ngoài xã hội là Đàm Thị Thu H4 để đi chơi. Sau khi gặp H4 nói chuyện, N đã rủ H4 đi chơi sập (đi nghe nhạc và sử dụng ma túy) và được H4 đồng ý. Nhuận lấy chiếc điện thoại N3 màu đen gọi cho bạn quen biết ngoài xã hội từ trước Vi Văn V- sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là nhân viên của quán 268 để đặt phòng và được V nói cứ đến quán đi có người đón. Sau khi đến quán 268 ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V); N và H4 đi đến cửa sau của quán, được Vi Văn T4- sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang là nhân viên của quán mở cửa cho vào trong. Nhuận để xe mô tô 24P3- 5766 ở khu vực nhà để xe đi qua phòng bếp thấy có mấy thanh niên đang ngồi uống rượu, tiếp tục qua thang máy đi đến quầy lễ tân ở phòng khách gặp Lê Minh T- sinh năm 1996, trú tại số nhà B, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang bảo sắp cho vào phòng 301. Nhuận và H4 đi vào cầu thang máy lên tầng 3, khi đi ở hành lang tầng 3 gặp một nhân viên quán dẫn N và H4 vào phòng 301 (Hành lang đèn sáng mờ, người này đội mũ kín mặt nên N không nhìn rõ mặt người nhân viên này, không để ý đặc điểm, không nhận dạng được người này). Khi H4 vào bên trong phòng bật điện, còn N đứng ngoài cửa nói với nhân viên này lấy cho 01 chỉ ke và 01 viên (tức là N hỏi mua người này 01 chỉ ma túy dạng ke và 01 viên ma túy). Khoảng 05 phút sau, N và H4 đang nằm ở giường nghe nhạc trong phòng thì có nhân viên hé cửa đưa ma túy qua khe cửa. H4 nằm ở giường, N đến cửa ra vào cầm lấy 01 túi nilon màu trắng bên trong có chất tinh thể màu trắng là ma túy Ketamine và 01 viên ma túy kẹo (Do cửa mở hé, N chỉ nhìn thấy cánh tay, không nhìn thấy mặt người, đặc điểm nhận dạng của người đưa ma túy). N cầm lấy túi ma túy và lấy 01 viên ma túy kẹo bẻ ra thành ½ viên ma túy kẹo đưa ½ viên ma túy cho H4. Nhuận sử dụng ½ viên ma túy còn lại và H4 tự dùng nước lọc trong phòng để sử dụng ma túy bằng cách uống ½ viên ma túy kẹo vào người. Nhuận lấy đĩa sứ có sẵn trong phòng, dùng đèn khò hơ nóng đĩa, cho ma túy ketamine lên đĩa tự xào chia 02 đường ke; Nhuận tự lấy ống nhựa hít một đường ke, đưa đĩa, ống nhựa cho H4 tự đi một đường ke. H4 và N nằm ở giường nghe nhạc. Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/11/2022, Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang và thu giữ chất ma túy trên mặt đĩa sứ màu trắng là ma túy của N đã mua mục đích khi nào sử dụng hết thì trả phòng về.

    Ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra cho Nguyễn Văn N nhận dạng qua ảnh đối với nhóm nhân viên quán 268. Kết quả, N nhận ra Lê Minh T tại ảnh số 1 là người Nhuận gặp tại quầy tại quán 268 trước khi vào phòng 301. N nhận ra Vi Văn V tại ảnh số 4 là người mà N gọi điện đặt phòng trước, còn lại những người khác không nhận ra.

    Ngày 14/11/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của H4 và N. Kết quả như sau: chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen của N bị hỏng, khởi động không lên nguồn; 01 điện thoại Iphone màu vàng số Imei: 357267090060298 thu giữ của Đàm Thị Thu H4, không có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội tại các mục tin nhắn, cuộc gọi, ứng dụng messenger, zalo.

  • * Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy tại Phòng 302 như sau:

    Hồi 03 giờ 30 phút ngày 12/11/2022, tại phòng 302, quán B thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang 06 người gồm: Vi Mạnh T1- sinh năm 1997; Hà Văn H5- sinh năm 1997, đều trú tại thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Nông Duy H6- sinh năm 1990, trú tại thôn Đ, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Mai Thị Hoài L- sinh năm 1999, trú tại xóm M, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nông Thị Q2- sinh năm 2003, trú tại thôn N, xã C, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Phùng Thị Thu P- sinh năm 2001, trú tại xóm Đ, xã K, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ: Thu trên mặt bàn phòng 302: 02 túi nilon màu trắng, 01 đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh, bên trong có chứa các chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì có ký hiệu “QT302”; 01 đĩa sứ màu trắng; 01 ống hút nhựa màu đen; 01 thẻ phôi sim Vinaphone được niêm phong trong 01 thùng cát tông có ký hiệu “QT302.2”.

    Ngoài ra tạm giữ trên người các đối tượng 07 chiếc điện thoại khác nhau, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu gold, số imei: 352362888939285 và số tiền 1.740.000 đồng của Vi Mạnh T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu gold, số imei: 352857111602089, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu gold, số imei: 355372085344400 và số tiền 410.000 đồng của Nông Duy H6; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh đen, imei: 353902104256920 của Hà Văn H5; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu gold, không kiểm tra được tình trạng bên trong của Nông Thị Q2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, số imei: 353058099869308 của Mai Thị Hoài L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 màu trắng, số imei: 358265585840231 của Phùng Thị Thu P.

    Ngày 12/11/2022, Công an huyện V (nay là thị xã V) test nhanh nước tiểu Nông Thị Quỳnh, Mai Thị Hoài L, Phùng Thị Thu P, Vi Mạnh T1, Hà Văn H5, Nông Duy H6. Kết quả 06 đối tượng đều dương tính với chất ma túy MDMA, K, M.

    Tại bản kết luận giám định số 2103/KL-KTHS ngày 17/11/2022 của Phòng K1- Công an tỉnh B kết luận:

    • - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT302” đã niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh đều là ma túy, có tổng khối lượng 1,123 gam, loại Ketamine.
    • - 01 (một) thùng cát tông ký hiệu “QT3022” đã được niêm phong gửi giám định:
      • + Chất tinh thể màu trắng bám dính trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng là loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
      • + Trong 01 (một) ống hút bằng nhựa màu đen có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
      • + Trên 01 (một) phôi sim Vinaphone có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.

    Ngày 12/11/2022 Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại thu giữ của đối tượng có kết quả như sau: Kết quả kiểm tra 01 chiếc điện thoại Iphone X màu trắng, số imei: 353058099869308 thu giữ của Mai Thị Hoài L: tại cuộc gọi đi, đến; tin nhắn; tin nhắn messenger; zalo không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội. Kết quả kiểm tra 01 chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu xanh đen, imei: 353902104256920 thu giữ của Hà Văn H5: tại cuộc gọi đi, đến; tin nhắn; tin nhắn messenger; zalo không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội. Kết quả kiểm tra 01 chiếc điện thoại Iphone 13 màu trắng, số imei: 358265585840231 thu giữ của Phùng Thị Thu P: tại cuộc gọi đi, đến; tin nhắn; tin nhắn messenger; zalo không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội. Kết quả kiểm tra 01 chiếc điện thoại Iphone X màu gold, thu giữ của Nông Thị Q2 đã bị hỏng không khởi động được nguồn. Kết quả kiểm tra 01 chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu gold, số imei: 352857111602089 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu gold, số imei: 355372085344400 thu giữ của Nông Duy H6: tại cuộc gọi đi, đến; tin nhắn; tin nhắn messenger; zalo không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội. Kết quả kiểm tra 01 chiếc điện thoại Iphone 13 promax màu gold, số imei: 352362888939285 thu giữ của Vi Mạnh T1: tại ứng dụng messenger có tài khoản “Mạnh T1” có tin nhắn với tài khoản “Dương Văn T5” có nội dung T1 hỏi địa điểm của quán 268 và hỏi mua 03 chỉ ma túy ke.

    Quá trình điều tra, bị cáo Vi Mạnh T1 khai nhận về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” như sau: Khoảng 22 giờ ngày 11/11/2022, Vi Mạnh T1, Hà Văn H5 và Nông Duy H6 thuê phòng 302, quán H8 tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang có gọi thêm 03 nhân viên để phục vụ rót bia cho khách, gồm: Mai Thị Hoài L, Nông Thị Q2, Phùng Thị Thu P. Khoảng 00 giờ ngày 12/11/2022, T1 muốn đổi phòng hát nên rủ 05 người đi xuống quầy để đổi phòng nhưng đã hết phòng hát. T1 bảo mọi người đi đến quán B tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang để chơi sập (nghe nhạc và sử dụng ma túy). Sau đó, 06 người gọi taxi đi đến quán 268, trên đường đi, T1 sử dụng chiếc điện thoại Iphone 13 Promax, dùng phần mềm messenger gọi cho tài khoản “Dương Văn T5” (tài khoản này T1 quen biết trên mạng xã hội) hỏi quán 268 ở đâu thì tài khoản “Dương Văn T5” trả lời hỏi taxi. T1 nhắn tin vào tài khoản “Dương Văn T5” hỏi mua 03 chỉ ke (loại ma túy Ketamine) mục đích để đến quán 268 sử dụng, bao giờ sử dụng hết thì về. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 12/11/2022, khi đến quán 268, cả nhóm 06 người được Nguyễn Văn T6 mở cửa sau đi vào, H5 và H6 vào trước còn T1 vào sau cùng. T hướng dẫn T1 và những người khác lên phòng 302. T1 gửi một tin nhắn thoại cho tài khoản “Dương Văn T5” thể hiện nội dung “Phòng 302” tức là nhắn cho tài khoản “Dương Văn T5” mang ma túy vào phòng 302. Sau khi vào phòng, tất cả đều nằm ở giường nghe nhạc. Khoảng 20 phút sau thấy có tiếng gõ cửa, T1 nói với nhân viên hát “mở cửa đi em” (không để ý là ai ra mở cửa) thấy một nam thanh niên đi vào phòng. T1 nghĩ đấy là T5 mang ma túy đến. Người này vứt lên giường 01 bọc giấy ăn màu trắng, rồi đi ra khỏi phòng. T1 bỏ gói giấy ra đưa cho L 01 túi nilong màu trắng, bên trong là ma tuý ketamine và nói là “Em xào đi”, đồng thời đưa cho L 01 bình gas có gắn đầu khò, L bảo là “Em không biết xào”, T1 nói tiếp “Cầm lấy xào đi”. L lấy đĩa sứ màu trắng ở trên giường, trên mặt đĩa đã được để sẵn thẻ và ống hút màu đen. L để thẻ và ống hút ra giường bật bình gas gắn khò và khò ở đáy đĩa sứ, khò trong khoảng 30 giây, L tắt khò và lấy túi ma tuý ke đổ ra đĩa. T1 đưa cho L 02 túi nilon chứa ma tuý ke để xào tiếp. L dùng thẻ nhựa có sẵn để xào ke, L xào trong khoảng 01 đến 02 phút rồi đưa đĩa ke cho T1. L đi vào nhà vệ sinh, T1 tự kẻ ma tuý ke thành 02 đường và tự sử dụng bằng cách lấy ống hút màu đen có sẵn trên mặt đĩa. T1 đưa cho Hà Văn H5 đĩa ma tuý ke để sử dụng, T1 đưa cho Nông Duy H6 đĩa sứ có ma túy ke để H6 tự sử dụng 02 đường ke, H6 sử dụng ma túy xong để xuống giường nằm ngủ. Q2 tự lấy đĩa ma túy ở trên giường tự kẻ 01 đường ma túy ke sử dụng, rồi để đĩa ma túy xuống giường. L đi từ nhà vệ sinh ra, L tự lấy đĩa ma túy ở trên giường kẻ 02 đường ke và tự sử dụng bằng cách hít qua mũi. L đưa đĩa ma tuý ke cho Phùng Thị Thu P, P cầm đĩa ma túy tự kẻ 02 đường ke và sử dụng. Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/11/2022, Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 02 túi nilon chứa ma tuý ke trên mặt bàn và dụng cụ sử dụng ma tuý. Đối với 02 túi nilon chứa ma tuý ke trên mặt bàn, T1 khai mua mục đích sử dụng đến khi nào hết thì trả phòng về.

    Ngày 14/11/2022, Cơ quan điều tra trả lại cho Hà Văn H5: 01 chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu xanh đen, imei: 353902104256920; trả lại cho Nông Thị Q2: 01 chiếc điện thoại Iphone X màu gold; trả cho Nông Duy H6 01 chiếc điện thoại Iphone 11 promax màu gold, số imei: 352857111602089 và 01 chiếc điện thoại Iphone 7 Plus màu gold, số imei: 355372085344400 và số tiền 410.000 đồng; trả cho Phùng Thị Thu P 01 chiếc điện thoại Iphone 13 màu trắng, số imei: 358265585840231.

  • * Hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại phòng 401, như sau:

    Hồi 02 giờ 45 ngày 12/11/2022, tại phòng 401, quán B thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang có 09 đối tượng đang trong phòng, trong đó có 08 đối tượng có hành sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Triệu Văn Đ- sinh năm 1999; Hoàng Văn V1- sinh năm 1997; Hà Văn L1- sinh năm 1996; Nguyễn Văn N1- sinh năm 1996; Hoàng Văn Đ1 - sinh năm 1999; Nguyễn Tùng L2- sinh năm 1993, đều trú tại thôn L, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Hoàng Thị Thúy N2- sinh năm 1999, trú tại thôn Đ, N, H, tỉnh Lạng Sơn; Nguyễn Trung D- sinh năm 1991, trú tại thôn S, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Lò Thị X1- sinh năm 2002, trú tại tổ H, phường M, thành phố T, Tuyên Quang. Vật chứng thu giữ gồm: T3 tại túi quần phía trước bên phải của Nguyễn Văn N1 đang mặc 01 chiếc ví, bên trong chiếc ví có 02 túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa viền màu xanh, bên trong túi chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là chất ma túy Ketamin), được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “QT401”. T3 tại tủ kê trong phòng 401 gồm: 01 đĩa sứ màu trắng; 01 thẻ nhựa màu xanh có chữ và số (thẻ sim điện thoại cũ); 01 ống hút được cuốn từ tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được niêm phong trong 01 thùng cát tông có ký hiệu “QT401A”.

    Quá trình bắt quả tang tạm giữ trên giường trong phòng 401 gồm 06 điện thoại các loại: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Poco màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu vàng, model A1633; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, model A1661; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 màu hồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu đen, model A1784.

    Ngày 12/11/2022, Công an huyện V (nay là thị xã V) test nhanh nước tiểu 09 đối tượng nêu trên có 08 đối tượng Triệu Văn Đ, Hoàng Văn V1, Nguyễn Trung D, Nguyễn Tùng L2, Nguyễn Văn N1, Hà Văn L1, Lò Thị X1, Hoàng Văn Đ1, Hoàng Thị Thúy N2. Kết quả Đ, V1, L1, N1, D, Đ1, L2, X1 đều dương tính với chất ma túy MDMA, K, M, N2 âm tính với chất túy.

    Tại bản kết luận giám định số 2105/KL-KTHS ngày 17/11/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận:

    • - Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT401”, đã niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 02 (hai) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 1,447 gam, loại Ketamine.
    • - Trong 01 (một) thùng cát tông có ký hiệu “QT401A” đã được niêm phong gửi giám định:
      • + Trên 01 (một) đĩa sứ màu trắng có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
      • + Trong 01 (một) ống hút quấn bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đ (mười nghìn đồng) và cố định bằng bỏ đầu lọc thuốc lá có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.
      • + Trên 01(một) thẻ nhựa có chữ và số có bám dính chất ma túy, loại Ketamine, không xác định được khối lượng mẫu.

    Ngày 17/11/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra: 01 điện thoại nhãn hiệu Poco màu đen số imei: 860835054980220 (tài sản của Bùi Tiến D1); 01 điện thoại Iphone 7 màu trắng vàng số imei 35382008832344 Model A1633 (là tài sản của Nguyễn Tùng L2); 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen Model A1661, số imei: 356566082789769 (là tài sản của Hoàng Văn Đ1); 01 điện thoại Iphone 7 màu hồng số imei: 355841087282545 (tài sản của Hoàng Văn V1); 01 điện thoại Iphone 6s màu vàng số imei 353261078171734 (Tài sản của Nguyễn Trung D); 01 điện thoại Iphone 7 plus màu đen Model A1784, số imei: 356566082929779 (Tài sản của Nguyễn Văn N1), có kết quả: trong thư mục cuộc gọi đi, đến; tin nhắn, messenger, zalo không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội.

    Quá trình điều tra, Triệu Văn Đ, Hoàng Văn V1, Nguyễn Trung D, Hà Văn L1 khai nhận về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và Nguyễn Văn N1 khai nhận về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cụ thể như sau: Buổi tối ngày 11/11/2022, Nguyễn Văn N1- sinh năm 1996, ở thôn L, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn tổ chức sinh nhật ăn uống tại nhà hàng L3 tại thôn N, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang gồm có: Triệu Văn Đ, Hoàng Văn V1, Hà Văn L1, Nguyễn Văn N1, Hoàng Văn Đ1, Nguyễn Tùng L2, Hoàng Thị Thúy N2, Nguyễn Trung D, Lò Thị X1. Quá trình ăn tại quán, Đ rủ Vũ tí nữa đi sập (đi nghe nhạc và sử dụng chất ma túy) nhưng V1 không đi. Khoảng 00 giờ ngày 12/11/2022, Đ cùng 08 người trên đi đến quán K2 tại xã Q, huyện V để hát. Khi mọi người đang hát, Hoàng Văn V1, Triệu Văn Đ, Nguyễn Trung D và Hà Văn L1 đi ra ngoài phòng hát. V1 nói với Đ là “Anh em mình đi sập đi, mỗi thằng dưa góp một ít” (sập tức là V1 rủ Đ đi sử dụng ma tuý, Đ và V1 mỗi người đóng một ít tiền) và được Đ đồng ý. V1 nói không có tiền nên Đ nói “Cầm máy của em đi cắm”. V1 rủ thêm D cùng góp tiền và được D đồng ý, L1 đang đứng gần đó, không nói gì nhưng đồng ý cùng đi sử dụng ma tuý, cùng nhau thống nhất khi nào xong tiền sử dụng ma tuý chia đều cho 04 người là Đ, D, L1 và V1. Đ rủ Đ1, N1 đi sử dụng ma tuý tại quán 268. Đam và N1 đồng ý. Đ và L2 đi xe taxi đến quán 268 ở tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V trước. Khoảng 01 giờ ngày 12/11/2022, Đ và L2 đến quán 268 có Vi Văn T4 đón ở ngoài cửa sau đưa vào cửa ra vào có Nguyễn Văn T6 mở cửa phòng. Lê Minh T (quản lý quán) đón vào quầy lễ tân. Đ nói với T là “Anh cho em 01 phòng”. T hỏi “Có bao nhiêu người”. Đ trả lời “Có mấy anh em đến sau nữa”. Đ hỏi tiếp “Bao nhiêu tiền 01 tiếng”. T nói “05 tiếng là 2 triệu”, Đ nói “Cho em lên phòng trước tẹo em tính sau”, T bảo lên phòng 401. Đ với L2 lên phòng 401, trong phòng đã được chuẩn bị sẵn đệm, âm thanh, ánh sáng, đĩa sứ, thẻ, tẩu. Đ ở đó khoảng 15 phút thì V1 đến quán và gọi Đ xuống để xem cầm cắm điện thoại di động Iphone 12 promax màu đen thế nào. Khi Đ đi xuống quầy, V1 hỏi Đ “Máy này cắm được bao nhiêu”, Đ trả lời “Cắm 08 triệu”, Đ quay sang nói với T “Em để đây 08 triệu được không, mấy hôm nữa em lấy”, T trả lời “Ok, được”. V1 đi lên phòng 401 trước, Đ đứng ở quầy hỏi mua ma túy 03 chỉ, 04 viên của T (tức là mua 03 chỉ ma tuý ke và 04 viên ma tuý kẹo), tiền phòng thì chơi hết bao nhiêu thì lấy hoá đơn sau. T không nói gì. Đ tự hiểu là T đồng ý. Đ lên phòng 401 trong phòng gồm có 09 người gồm: Đ, V1, D, Đ1, N1, L2, L1, X1, N2. Do chưa nghe được nhạc nên có Nguyễn Văn T6 là nhân viên quán vào kết nối bluetooth điện thoại với thiết bị âm thanh, T6 đi ra khỏi phòng. Mọi người nghe nhạc được 15 phút có một nam thanh cầm ma tuý đứng ngoài cửa phòng đưa cho Đ 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa bên trong có 03 túi ni lon nhỏ màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa viền màu xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma tuý Ketamine và 04 viên ma tuý kẹo đưa cho Đ. Đ nhận ma tuý tại cửa bên ngoài phòng 401 mang vào để ở thảm trên nền nhà. V1 lấy 01 viên ma túy kẹo cắn ½ viên ma tuý kẹo, chia cho Đ1 ½ để sử dụng. Đ lấy ma túy chia cho L1 ½ viên ma tuý kẹo để L1 sử dụng và Đ chia cho D ½ viên ma tuý kẹo; X1 tự lấy sử dụng ½ viên; L2 tự lấy sử dụng ½ viên ma tuý kẹo; Đ chia cho N1 ½ viên ma tuý kẹo để sử dụng. Mọi người đều sử dụng (trừ N2). Lượng đốt đèn khò hơ nóng đĩa sứ để xào ke, thấy đĩa sứ đã nóng, L1 lấy 01 chỉ ma túy ke trong túi linon cho vào đĩa tiếp tục xào ke xong, rồi để đĩa ma túy xuống giường. Tất cả mọi người đều tự sử dụng ma tuý ke. Còn lại 02 chỉ ke được X1 cuốn vào tờ giấy trắng, N1 cầm giật lấy nói “Để anh cất đi lần sau dùng tiếp”. N2 không sử dụng ma túy. Mọi người nằm nghe nhạc khoảng 02 giờ 20 phút cùng ngày 12/11/2022, Tổ công tác Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang, thu giữ dụng cụ sử dụng ma tuý và thu giữ trong ví để ở túi quần phía trước bên phải của N1 02 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khoá bằng nhựa viền màu xanh bên trong là ma tuý ketamine. Tổ công tác Công an lập biên bản, niêm phong đồ vật. Đối với N1 cất giấu ma túy trên người mục đích sử dụng, không nói cho người khác biết việc cất giấu ma túy này. Đ, D, V1 không biết việc N1 cất giấu ma túy trên người.

    Ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra cho Triệu Văn Đ nhận dạng qua ảnh người đã nhận đặt phòng, đặt điện thoại, người đưa ma túy, người đưa vào trong quầy. Kết quả Đ nhận ra ảnh số 1 là Lê Minh T là người Đức đặt phòng, đặt điện thoại để mua ma túy; ảnh số 6 là Nguyễn Văn T6 đưa ma túy tại trước cửa phòng 401; ảnh số 7 là Vi Văn T7 người mở cửa sau cho khách vào; Đ không nhận được ra ai là người đã mang ma túy vào phòng của 401.

    Ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra cho Hoàng Văn V1 nhận dạng qua ảnh có kết quả: ảnh số 1 là Lê Minh T; ảnh số 7 là Vi Văn T4 người mở cửa sau cho khách vào, ngoài ra không nhận được ra ai là người mang ma túy vào phòng

    Ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra cho Hà Văn L1 nhận dạng qua ảnh. Kết quả L1 nhận ra ảnh số 7 là Vi Văn T4 người mở cửa sau cho khách vào, không nhận ai trong số nhân viên của quán là người mang ma túy vào phòng 401.

    Ngày 15/11/2022, Cơ quan điều tra cho Hoàng Văn Đ1 nhận dạng qua ảnh. Kết quả Đ1 nhận ra ảnh số 1 là Lê Minh T đứng tại quầy nói chuyện với Đ và ảnh số 2 là Nguyễn Văn H7 ngồi ăn tại bếp; ảnh số 3 không biết là ai; ảnh số 4 và số 5 là Vi Văn V, Bùi Tiến D1 bị bắt quả tang tại phòng 401; ảnh số 6 là Nguyễn Văn T6 là người vào phòng 401; ảnh số 7 là Vi Văn T4 người mở cửa sau cho khách vào.

    Ngày 20/11/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu đen của Triệu Văn Đ thu giữ khi khám xét khẩn cấp tại quầy của quán 268 có kết quả: tại cuộc gọi đi, đến; tin nhắn; tin nhắn messenger; zalo không có nội dung gì liên quan đến hành vi phạm tội.

    Quá trình điều tra bị cáo Đ khai nhận đã đặt điện thoại cho T tại quầy lễ tân để mua ma túy ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra làm việc với T khẳng định chỉ nhận đặt điện thoại để cho thuê phòng, không nhận điện thoại để bán ma túy, không bảo ai mang ma túy lên phòng 401. Do có sự mâu thuẫn về lời khai, Cơ quan điều tra cho bị cáo Triệu Văn Đ đối chất với bị cáo Lê Minh T. Kết quả các bên giữ nguyên lời khai, ngoài lời khai của Đ không có lời khai, chứng cứ nào thể hiện việc T bán ma túy cho Đ như Đ khai nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với T.

    Quá trình điều tra, ban đầu bị cáo Đ khai nhận dạng ra T6 là người mang ma túy đưa cho Đ ngày 12/11/2022 tại trước cửa quán B, quá trình làm việc T6 khẳng định không mang ma túy đưa cho Đ. Do mâu thuẫn lời khai Cơ quan điều tra cho bị cáo Đ và T6 đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai, ngoài lời khai của Đ không có tài liệu, chứng cứ nào khẳng định T6 đưa ma túy cho Đ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét xử lý về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với T6.

    Đối với Hoàng Văn Đ1, Nguyễn Tùng L2, Lò Thị X1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Ngày 09/3/2023, Công an huyện V đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Đ1, L2, X1 mỗi người số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

  • * Hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của 06 nhân viên quán 268, như sau:

    Hồi 04 giờ 40 phút ngày 12/11/2022, tại quán 268 thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang Vi Văn T4- sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tang vật thu giữ gồm: T3 tại túi quần phía trước đang mặc của T4 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy Ketamine), được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “QT”. Ngoài ra, còn tạm giữ của T4 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, I: 358863666091334 được niêm phong trong 01 phong bì có ký hiệu “QT1” và số tiền 1.390.000 đồng.

    Ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra khám xét khẩn cấp quán 268, thu giữ niêm phong đối với những đồ vật như sau: T3 tại két sắt số tiền 48.130.000 đồng; T3 tại bàn quầy tại quán 268 gồm: 01 họp giấy bên trong có 42 ống hút nhựa màu đen; 109 thẻ nhựa các màu; 01 màn hình trên có chữ ViewSony; 01 (CPU) cây máy tính để bàn nhãn hiệu Kenao; 01 máy in; 01 đầu thu dữ liệu camera nhãn hiệu HK Vision model DS-7616; 02 bộ đàm và 09 điện thoại di động các loại (gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu trắng, số Imei: 357333083573232; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số IMEI: 354191109818830; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, có số IMEI: 351869/07/199264/1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, có số IMEI: 35576313989434; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, Model A1661; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng có mật khẩu màn hình; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh có mật khẩu màn hình); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, Model A1784 có mật khẩu màn hình; 01 điện thoại di động cảm ứng, màu đen, ký hiệu G đã hỏng; T3 tại phòng 401 gồm: 01 máy chiếu nhãn hiệu Larer Light SystemSR-600, 01 đèn chiếu model AC6923, 01 loa nhãn hiệu Sony SA-WS700RF, 03 loa nhãn hiệu Sony; T3 tại phòng 302 gồm: 01 máy chiếu nhãn hiệu Larer Light SystemSR-1000, 01 đèn chiếu model AC6923, 01 loa nhãn hiệu Sony SA-WS700RF, 03 loa nhãn hiệu Sony, 01 đèn chiếu sáng; thu tại gầm bàn 10 bình ga mini, 05 đầu khò. Tổ công tác niêm phong: 01 đầu thu dữ liệu camera nhãn hiệu HK Vision model DS-7616 và 01 (CPU) máy tính để bàn nhãn hiệu Kenao và 09 điện thoại di động các loại trong 01 thùng catton.

    Quá trình khám xét tạm giữ những đồ vật tài liệu sau: 01 xe mô tô Honda SH150i màu đen có biển kiểm soát 98B3- 471.31 là tài sản của Vi Văn V; 01 xe mô tô Honda Dream màu trắng có biển kiểm soát 24P3- 5766 là tài sản của Nguyễn Văn N; 01 xe mô tô Honda SH150i màu đen không đeo biển kiểm soát, số máy KF26E0072149, số máy RLJF2519GY072055 kiểm tra trong cốp xe có biển kiểm soát 98B3- 339.93 là tài sản của Lê Minh T; 01 xe mô tô Honda Wave Alpha màu đen, biển kiểm soát 98B3- 135.39 là tài sản của Nguyễn Văn T6.

    Quá trình làm việc với cơ quan điều tra 06 nhân viên của quán 268 gồm có: Lê Minh T- sinh năm 1996, trú tại số nhà B, đường H, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (là quản lý quán); Nguyễn Văn T6- sinh năm 1992, trú tại số D, ngõ A, đường H, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Bùi Tiến D1- sinh năm 2001, trú tại xóm C, xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Vi Văn T4- sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Bùi Văn A- sinh năm 2003, trú tại xóm B, xã Â, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Vi Văn V- sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã H, huyện L, tỉnh Bắc Giang khai nhận về việc bàn bạc, phân công nhiệm vụ, chuẩn bị, sắp xếp dụng cụ, tổ chức cho các đối tượng sử dụng chất ma túy tại phòng 301, 302, 401 để thu lợi bất chính. Lê Minh T, Nguyễn Văn T6, Vi Văn V, Vi Văn T4, Bùi Tiến D1, Bùi Văn A có đơn xin đầu thú về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quá trình đầu thú Vi Văn V tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, Imei: 351732278070431, lắp sim thuê bao 0969709833; Bùi Văn A giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redlme màu xanh, số imei: 86549655815256.

    Cùng ngày 12/11/2022, Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường, không thu giữ đồ vật tài liệu gì.

    Ngày 12/11/2022, Công an huyện V test nhanh nước tiểu Lê Minh T, Vi Văn T4, Bùi Tiến D1, Vi Văn V, Nguyễn Văn T6. Kết quả T, T4, D1, T6 đều dương tính với chất ma túy K; T6 dương tính với chất ma túy M và K; còn Vi Văn V âm tính với chất ma túy.

    Tại bản kết luận giám định số 2102/KL-17/11/2022 ngày 17/11/2022 của Phòng K1- Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 (một) phong bì ký hiệu “QT” đã niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,384 gam, loại Ketamine.

    Trong các ngày 12/11/2022, 13/11/2022, 14/11/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra 01 điện thoại di động Iphone 13 Promax, số I: 358863666091334 thu giữ của T4 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redlme màu xanh, số imei: 86549655815256 thu giữ của Bùi Văn A. Kết quả tại các cuộc gọi đi, đến, tin nhắn, tài khoản messenger, tài khoản zalo không có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội. Kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, Imei: 351732278070431, lắp sim thuê bao 0969709833 thu giữ của Vi Văn V. Kết quả: tại mục cuộc gọi đến vào lúc 22 giờ 58 phút ngày 11/11/2022 có cuộc gọi đến của số điện thoại 0869.090.xxx mang tên “A Nhuận khách”. Tại mục tin nhắn có nội dung vay mượn tiền giữa N và V. Vững khai nhận cuộc gọi đến số điện thoại của N là để đặt phòng.

    Ngày 18/11/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra 01 đầu thu dữ liệu camera nhãn hiệu HK Vision model DS-7616 và 01 (CPU) máy tính để bàn nhãn hiệu Kenao, kết quả không phát hiện được dữ liệu nào có liên quan đến hành vi phạm tội.

    Cùng ngày 18/11/2022, Cơ quan điều tra kiểm tra 09 điện thoại thu giữ tại mặt bàn quầy lễ tân quán 268, kết quả: điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu trắng, số I: 357333083573232; điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số I: 354191109818830; điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ, số Imei: 351869/07/199264/1; điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen, số I: 35576313989434 đều không phát hiện nội dung có liên quan đến vụ án trên hay hành vi vi phạm pháp luật nào khác. Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu đen, Model A1661; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu vàng; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu xanh; điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu vàng, model A1784 đều có mật khẩu màn hình, không kiểm tra được nội dung bên trong. Điện thoại di động cảm ứng, màu đen, ký hiệu G đã hỏng, sạc không lên nguồn, không kiểm tra được nội dung bên trong.

    Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra làm rõ hành vi “Tổ chức trái phép chất ma túy” của Nhóm nhân viên quán 268, như sau: Quán 268 được xây dựng 05 tầng có địa chỉ tại tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V, tỉnh Bắc Giang là tài sản của chị Đỗ Thị T8- sinh năm 1990, trú tại thôn K, xã Q, huyện V (nay là phường Q, thị xã V), tỉnh Bắc Giang đứng tên quyền sử dụng đất, xây dựng với mục đích để làm phòng trọ. Ngày 25/3/2022, chị T8 cho Lưu Thế A1- sinh năm 1999, trú tại thôn S, xã Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thuê nhà (có lập hợp đồng thuê nhà).

    Khoảng tháng 9/2022, Lê Minh T khai được một người tên là T9, sinh năm khoảng 1988 ở ngã 3 Quán T, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang thuê làm quản lý quán 268, trả lương là 7.000.000 đồng/01 tháng (không có hợp đồng). T đến làm tại quán 268 đã được thiết kế 06 phòng được đánh số 201, 202, 301, 302, 401 và 402. Các phòng được chuẩn bị sẵn các dụng cụ giường, tủ, bàn ghế, loa, đèn nháy, đĩa sứ, khò gas, thẻ nhựa cứng, tủ lạnh và các dụng cụ khác, mục đích để khách đến thuê phòng sử dụng trái phép chất ma tuý (Cách gọi khác là S, nguồn ma túy do khách tự cung cấp, quán 268 không bán cung cấp ma túy cho khách). Giá thuê phòng do T9 đặt ra, cụ thể: “Combo giờ” gồm 05 tiếng có giá 2.000.000 đồng và C 10 tiếng có giá là 4.000.000 đồng (được miễn phí bánh kẹo, nước uống, thuốc lá, kẹo cao su có sẵn trong phòng). T9 là người trực tiếp phân công T làm việc ca từ 20 giờ ngày hôm trước đến 06 giờ ngày hôm sau, T có nhiệm vụ quản lý quán, đứng quầy lễ tân, sắp xếp phòng khi khách đến thuê, thu tiền của khách và tuyển nhân viên đến làm tại quán. Quá trình làm việc tại quán, T thuê nhân viên gồm: Thưởng, A, D1, T6, V; việc ăn, uống, sinh hoạt hàng ngày được sử dụng từ tiền khách trả thuê phòng để tổ chức sử dụng ma tuý. T phân công công việc cho nhân viên như sau: Lê Minh T quản lý chung tại quán, đứng tại quầy xếp phòng, thu tiền khách, trả lương cho nhân viên. Vi Văn T4 làm ca tối từ 19 giờ ngày hôm trước đến 07 giờ ngày hôm sau (làm từ tháng 10/2022) có nhiệm vụ đón khách ở ngoài đường vào cửa sau của quán, được trả lương 5.000.000 đồng/01 tháng, khi không có khách T4 cùng D1 dọn dẹp phòng, T4 không ăn ngủ tại quán. Nguyễn Văn T6 làm ca tối từ 19 giờ ngày hôm trước đến 07 giờ ngày hôm sau (làm từ tháng 9/2022), T6 có nhiệm vụ đứng quan sát xem camera ở khu vực cửa sau, thấy có khách được T4 đưa vào T6 mở cửa cho khách vào quán, được trả lương 5.000.000 đồng/01tháng. Bùi Tiến D1 làm ca tối từ 19 giờ ngày hôm trước đến 07 giờ ngày hôm sau (làm từ tháng 10/2022), D1 có nhiệm vụ khi có khách đặt phòng chỗ T thì được T bảo đi bật điều hòa, đèn nháy, máy chiếu, gọt hoa quả mang vào phòng khách đã đặt, sau khi khách trả phòng Dụng dọn dẹp phòng. Thưởng, D1 ăn ngủ tại quán. Bùi Văn A làm ca ngày từ 07 giờ đến 19 giờ hàng ngày (làm từ tháng 10/2022), được trả lương 5.000.000 đồng/01tháng. Do ca ngày gần như không có khách, nếu có thì khách thường vào cuối giờ chiều nên công việc của A là trông nom quán, dọn dẹp các phòng cho sạch sẽ để đón khách vào buổi tối. A ăn ngủ tại quán. Vi Văn V làm ca ngày từ 07 giờ đến 19 giờ (làm từ tháng 10/2022), được trả lương 5.000.000 đồng/01tháng, Vững có nhiệm vụ nấu ăn cho tất cả mọi người trong quán, V cũng thường xuyên ở lại quán.

    T6, T4, V, D1, A đến làm tại quán đều được T nói cho biết: Trong các phòng tại quán 268 được thiết kế các dụng cụ giường, tủ, bàn ghế, loa, đèn nháy, đĩa sứ, khò gas, thẻ nhựa cứng, camera, tủ lạnh đựng đồ từ trước thời điểm đến làm tại quán; mục đích các phòng được thiết kế để cho khách đến thuê phòng để sập (sập tức là khách sử dụng ma tuý tại các phòng). Quán được thiết kế thành 06 phòng sập, được đánh số là 201, 202, 301, 302, 401, 402, giá thuê phòng như đã nêu ở trên. Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2022 đến ngày 11/11/2022, T thu lợi bất chính được từ việc cho khách thuê địa điểm để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý là 103.930.000 đồng, T sử dụng số tiền như sau: Tiền thu trong két sắt quán 268 là 48.130.000 đồng (trong đó, có 8.130.000 đồng là tiền thu của khách đến sử dụng ma tuý tháng 11/2022; 40.000.000 đồng là tiền thu lợi từ việc cho thuê phòng sử dụng ma túy, T phải đưa cho T9 tháng 9 và tháng 10/2022 nhưng T9 chưa đến lấy nên T vẫn để trong két sắt); T10 ăn, sinh hoạt cho các nhân viên tại quán là 300.000 đồng/01 ngày (tính trong 02 tháng là 18.000.000 đồng); Tiền lương trả cho nhân viên trong tháng 9 và tháng 10/2022 (tháng 11 chưa trả lương) là 37.800.00 đồng, gồm: lương của T 14.000.000 đồng, lương của V 8.000.000 đồng, lương của T6 10.000.000 đồng, lương của A 2.700.000 đồng, lương của D1 3.100.000 đồng; Vi Văn T4 chưa được nhận tiền lương.

    Ngày 11/11/2022, Bùi Văn A dọn dẹp tất cả các phòng 201, 202, 301, 302, 401 và 402, chuẩn bị sẵn các dụng cụ giường, tủ, bàn ghế, loa, đèn nháy, đĩa sứ, khò gas, thẻ nhựa cứng, tủ lạnh và các dụng cụ khác; mục đích để khách đến thuê phòng sử dụng trái phép chất ma tuý vào buổi tối. Trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 11/11/2022 đến 02 giờ 30 ngày 12/11/2022, T, T6, T4, V, D1, A chuẩn bị, sắp xếp dụng cụ, tổ chức cho các đối tượng sử dụng chất ma túy tại phòng 301, 302, 401 để thu lợi bất chính nhưng chưa thu được tiền của khách. Đến 02 giờ 20 phút ngày 12/11/2022, Tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng liên quan.

Với nội dung trên bản án hình sự sơ thẩm số 18/2024/HSST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang đã xét xử và quyết định:

  1. Về áp dụng điều luật, tội danh và hình phạt:
    1. 1.1.Căn cứ các điểm a, b Khoản 2, khoản 5 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T 12 (mười hai) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 13/11/2022.

      Phạt bổ sung 55.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

    2. 1.2. Căn cứ các điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Tiến D1 10 (mười) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 13/11/2022.
    3. 1.3. Căn cứ các điểm a, b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn A 10 (mười) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 14/11/2022.
    4. 1.4. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D 09 (chín) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 12/11/2022.
    5. 1.5. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Mạnh T1 10 (mười) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 12/11/2022.
    6. 1.6. Căn cứ c điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mai Thị Hoài L 07 (bảy) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trù thời gian tạm giữ từ 12/11/2022 đến ngày 17/11/2023.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt với 08 bị cáo khác, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo, nghĩa vụ chậm thi hành án theo quy định của pháp luật.

Sau khi cấp sơ thẩm xét xử xong, ngày 07/2/2024, bị cáo Lê Minh T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt

Ngày 30/1/2024, bị cáo Vi Mạnh T1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 03/2/2024, bị cáo Nguyễn Trung D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 05/2/2024, bị cáo Mai Thị Hoài L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 29/5/2024, bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Tòa án đã ra Thông báo rút kháng cáo

Ngày 31/1/2024, bị cáo Bùi Tiến D1 kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Ngày 20/2/2024, bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Tòa án đã ra Thông báo rút kháng cáo

Ngày 01/2/2024, bị cáo Bùi Văn A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 29/5/2024, bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Tòa án đã ra Thông báo rút kháng cáo

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1 và Nguyễn Trung D vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà các bị cáo nêu ra đã kết luận và đề nghị HĐXX:

  1. Căn cứ các điểm a, b Khoản 2, khoản 5 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T 10 năm 02 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 13/11/2022.

    Phạt bổ sung 55.000.000 đồng để nộp vào ngân sách nhà nước. Truy thu 32.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Lê Minh T nộp ngân sách nhà nước.

    Xác nhận bị cáo Lê Minh T đã nộp 87.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính tại biên lai thu tiền số 0001640 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001534 ngày 26/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

  2. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D 08 năm 06 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 12/11/2022.

    Xác nhận bị cáo Nguyễn Trung D đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001536 ngày 26/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

  3. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Mạnh T1 09 năm 10 tháng tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 12/11/2022.

    Xác nhận bị cáo Vi Mạnh T1 đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001647 ngày 04/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

  4. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1 và Nguyễn Trung D không có tranh luận gì.

Các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1 và Nguyễn Trung D nói lời sau cùng: đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D nộp theo đúng các quy định của pháp luật nên được coi là đơn kháng cáo hợp lệ cần được chấp nhận để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
  2. [2] Đối với kháng cáo của các bị cáo Bùi Tiến D1, Bùi Văn A, Mai Thị Hoài L: Quá trình xét xử phúc thẩm, các bị cáo có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Tòa án đã ra Thông báo rút kháng cáo đối với kháng cáo của các bị cáo. Do vậy HĐXX không xem xét.
  3. [3] Về hành vi phạm tội:

    Trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2022 đến ngày 12/11/2022, tại quán 268 thuộc tổ dân phố M, thị trấn N, huyện V (nay là phường N, thị xã V), tỉnh Bắc Giang, Lê Minh T cùng với Vi Văn T4, Bùi Tiến D1, Nguyễn Văn T6, Bùi Văn A, Vi Văn V cùng nhau bàn bạc, phân công, chuẩn bị địa điểm, sắp xếp dụng cụ, tổ chức cho các đối tượng sử dụng chất ma túy trái phép, tàng trữ trái phép chất ma túy tại các phòng 301, 302, 401 của quán 268 để thu lợi bất chính. Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 12/11/2022, tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang, cụ thể như sau:

    • - Tại phòng 301: Tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn N có hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho Đàm Thị Thu H4. Quá trình bắt quả tang còn thu giữ của N 0,624 gam chất ma túy Ketamine, với mục đích sử dụng tại phòng 301.
    • - Tại phòng 302: Tổ công tác Công an huyện V phát hiện, bắt quả tang Vi Mạnh T1 có hành vi cung cấp chất ma túy (mua chất ma túy), Mai Thị Hoài L có hành vi chuẩn bị điều kiện để đưa chất ma túy (xào ke) cho Hà Văn H5, Nông Duy H6, Nông Thị Q2, Phùng Thị Thu P, Vi Mạnh T1 cùng nhau sử dụng ma túy. Quá trình bắt quả tang còn thu giữ 1,123 gam chất ma túy Ketamine, Vi Mạnh T1 khai số ma túy trên mục đích sử dụng hết tại phòng 302 nếu không bị bắt.
    • - Tại phòng 401: Tổ công tác Công an huyện V (nay là thị xã V) phát hiện, bắt quả tang Triệu Văn Đ, Hoàng Văn V1, Hà Văn L1, Nguyễn Trung D cùng nhau bàn bạc, góp tiền mua ma túy để thực hiện hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” cho Nguyễn Văn N1, Hoàng Văn Đ1, Nguyễn Tùng L2, Lò Thị X1 và 04 bị cáo cùng sử dụng. Trong đó, Hà Văn L1 thực hiện hành vi chuẩn bị điều kiện để đưa chất ma túy (xào ke) cho các đối tượng sử dụng ma túy. Quá trình bắt quả tang phát hiện Nguyễn Văn N1 có hành vi cất giấu trái phép 1,447 gam chất ma túy Ketamine trong ví, mục đích để sử dụng.

    Hành vi của các bị cáo Vi Văn T4, Bùi Tiến D1, Nguyễn Văn T6, Lê Minh T, Bùi Văn A, Vi Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của các bị cáo Triệu Văn Đ, Hoàng Văn V1, Nguyễn Trung D, Hà Văn L1, Vi Mạnh T1, Mai Thị Hoài L đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự; hành vi của bị cáo Nguyễn Văn N1 đã đủ yếu tố cầu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

  4. [3] Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D thì thấy
    • - Về vai trò các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D:
      • + Nhóm các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhằm mục đích thu lợi nhuận: Bị cáo Lê Minh T là phân công nhiệm vụ cho các bị cáo do đó có vai trò thứ nhất.
      • + Nhóm các đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân: Nhóm đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 302: Bị cáo T1 có vai trò thứ nhất, khởi xướng và là người mua ma túy, đặt phòng cho mọi người sử dụng ma túy.
      • + Nhóm đối tượng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng 401: bị cáo D có vai trò sau 2 bị cáo khác.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo Lê Minh T đầu thú. Áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo, riêng các bị cáo T áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi cân nhắc hình phạt.
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

    Án sơ thẩm đã xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội, xử phạt bị cáo Lê Minh T 12 (mười hai) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Nguyễn Trung D 09 (chín) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo Vi M1 Trường 10 (mười) năm tù về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

    Các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

    Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm đã nộp thêm các tài liệu chứng cứ mới gồm:

    • + Bị cáo Lê Minh T đã tự nguyện nộp 87.000.000 đồng tiền phạt bổ sung và tiền thu lợi bất chính; 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
    • + Bị cáo Vi Mạnh T1 cung cấp các tài liệu, chứng cứ sau: Biên lai nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm, bản sao Quyết định về việc quân nhân xuất ngũ số 15/QĐ-XN ngày 21/01/2019 của Lữ đoàn TTG409 Bộ Tư lệnh Quân khu I, bản sao giấy chứng nhận hiến máu tình nguyện năm 2017; bản sao chứng nhận tốt nghiệp khóa 49 Đào tạo lái xe của Trường T11 – Bộ Tư lệnh tăng thiết giáp – Bộ Q3.
    • + Bị cáo Nguyễn Trung D cung cấp các tài liệu, chứng cứ sau: 01 biên lai nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, bản sao Huân chương kháng chiến hạng 3 và huy hiệu 50 năm tuổi đảng của ông Nguyễn Văn X2 là ông nội bị cáo;

    Đây là các tình tiết mới ở cấp phúc thẩm do vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D.

    Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sự độc quyền quản lý về ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự xã hội, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, bị xã hội lên án. Do vậy, việc áp dụng hình phạt nghiêm đối với các bị cáo là cần thiết. Tuy nhiên tại cấp phúc thẩm, các bị cáo cung cấp thêm được nhiều tài liệu, chứng cứ mới là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D, sửa bản án sơ thẩm đối với các bị cáo các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật.

  5. [4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. [5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị HĐXX không xem xét, giải quyết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D. Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D.
    1. 1.1. Căn cứ các điểm a, b Khoản 2, khoản 5 Điều 255; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Minh T 10 (mười) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 13/11/2022.

      Phạt bổ sung 55.000.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước. Truy thu 32.000.000 đồng là tiền thu lợi bất chính của bị cáo Lê Minh T nộp ngân sách nhà nước.

      Xác nhận bị cáo Lê Minh T đã nộp 87.000.000 đồng tiền phạt bổ sung, tiền thu lợi bất chính tại biên lai thu tiền số 0001640 ngày 02/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001534 ngày 26/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

    2. 1.2. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vi Mạnh T1 09 (chín) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 12/11/2022.

      Xác nhận bị cáo Vi Mạnh T1 đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001647 ngày 04/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.

    3. 1.3. Căn cứ điểm b Khoản 2 Điều 255; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17 Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Trung D 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ tạm giam 12/11/2022.

      Xác nhận bị cáo Nguyễn Trung D đã nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001536 ngày 26/01/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang.

  2. 2 . Án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Các bị cáo Lê Minh T, Vi Mạnh T1, Nguyễn Trung D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

  3. 3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. 4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - CA, VKS, TA thị xã Việt Yên;
  • - Chi cục THADS thị xã Việt Yên;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-PT ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 96/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tổ chức sử dụng trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger