TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày 17-9-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Hiền
Ông Phạm Ngọc Thanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Sển - Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 9 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1998 tại A, Kiên Giang;
CCCD [...]; Nơi cư trú: ấp N, xã V, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Hoài P và bà Cao Mỹ L; vợ Nguyễn Thị D; con có 01 người sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt phạm tội quả tang ngày 24/5/2024, bị tạm giữ ngày 25/5/2024, tạm giam ngày 02/6/2024, cho bảo lĩnh ngày 20/6/2024, hiện đang tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 23/5/2024, Nguyễn Văn Q được một người tên K (chưa rõ nhân thân, lai lịch) cho 01 (một) gói nylon chứa ma túy đá, Quyền có lấy ra một ít ma túy sử dụng, phần ma túy còn lại Q dùng quẹt gas hàn kín lại rồi cất giấu để tiếp tục sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 24/5/2024, Nguyễn Văn Q mượn chiếc xe nhãn hiệu Honda loại Vario màu trắng, biển kiểm soát 68FA-070.43 của bà Huỳnh Thị L1 nói là đi công việc, khi Q đang điều khiển xe trên đoạn đường lộ bê tông hướng từ phà C về xã V thì bị lực lượng Công an huyện A phối hợp với Công an xã Đ bắt quả tang cùng tang vật là gói ma túy, đưa về trụ sở cơ quan Công an xã Đ làm rõ.
Tại cơ quan điều tra, bị can Nguyễn Văn Q thừa nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã thu giữ các vật chứng sau:
Thu giữ lúc bắt quả tang:
- - 01 (một) gói nylon trong suốt, bên trong có 01 (một) gói nylon trong suốt được hàn kín, bên trong có chứa nhiều hạt tinh thể không đồng nhất nghi là ma tuý.
- - 01 (một) gói thuốc nhãn hiệu Saigon, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đôi dép màu trắng, quai màu đen, không rõ nhãn hiệu.
- - 01 (một) điện thoại màu xám, bàn phím dán decal màu xanh, đã qua sử dụng, bị hư hỏng, không còn sử dụng được. (Đã trả lại cho bị cáo).
- - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu honda, loại Vario, biển kiểm soát 68FA-07043, màu trắng, đã qua sử dụng. (Đã trả lại bà Huỳnh Thị L1).
Tại Kết luận giám định số: 500/KL-KTHS ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K, kết luận:
Nhiều hạt tinh thể màu trắng, không đồng nhất chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Khối lượng mẫu gửi giám định là 0,4767 gam.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong danh mục IIC, STT 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính Phủ.
Tại Cáo trạng số 78/CT-VKS-AM ngày 19-8-2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Nguyễn Văn Quyền về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- Kiểm sát viên kết luận bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Về vật chứng, tịch thu tiêu hủy ma túy và vật dụng có liên quan, hiện không còn giá trị sử dụng.
- Bị cáo trình bày: Bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận đã thực hiện hành vi vi phạm đúng như cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đã nêu, không đối đáp, tranh luận gì. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã thực hiện, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về lo cho cha mẹ già, vợ sắp sinh và con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện cơ bản đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
- Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 24/5/2024, tại ấp A H, xã Đ, huyện A, Kiên Giang, Công an phát hiện và bắt quả tang Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, kết quả điều tra xác định số ma túy trên là do Nguyễn Văn Q mua về để sử dụng. Theo Kết luận giám định chất ma túy mà Nguyễn Văn Q tàng trữ là loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4767 gam.
- Về tội phạm: Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy và các chất gây nghiện khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ ma túy là chất quản lý đặc biệt nhưng đã tàng trữ trái phép là phạm tội với lỗi cố ý; mục đích tàng trữ ma túy của bị cáo là để sử dụng, không nhằm để mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy; loại ma túy bị cáo tàng trữ là Methamphetamine có khối lượng 0,4767 gam. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Về hình phạt:
- [4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội là nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội khác và bất bình trong nhân dân. Bị cáo biết rõ tác hại của ma túy cũng như hậu quả và những hệ lụy của việc sử dụng chất ma túy để lại đối với sức khỏe, kinh tế của bản thân người sử dụng, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo thật nghiêm để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.
- [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; có thân nhân là người có công với cách mạng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- [4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng bị cáo đã phạm tội nghiêm trọng có khung hình phạt từ 01 đến 05 năm tù, làm phức tạp thêm tình hình tệ nạn ma túy, gây bất ổn và gây dư luận không tốt ở địa phương nên cần phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, buộc chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định là phù hợp với hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Thấy bị cáo mới phạm tội lần đầu, gia đình khó khăn, vợ sắp sinh con nên chỉ cần xử phạt ở mức đầu khung hình phạt là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- [4.4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, HĐXX nhận thấy lẽ ra áp dụng hình phạt bổ sung để tăng tính răn đe. Tuy nhiên, nhận thấy bị cáo có thu nhập thấp, không ổn định, phải thi hành hình phạt tù khó đảm bảo khả năng thi hành án nên không áp dụng đối với bị cáo.
- Về vật chứng, đối với số ma túy là vật cấm tàng trữ và vật dụng có liên quan hiện không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn Q chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Đối với người bán ma túy cho Nguyễn Văn Q hiện chưa xác định được lai lịch nhân thân, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A chưa làm việc được nên chưa xử lý trong vụ án này là phù hợp. Đề nghị Viện kiểm sát, cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- 1.1- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo chấp hành án, khấu trừ thời gian đã bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/5/2024 đến ngày 20/6/2024.
- 1.2- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:
- - 01 (một) phong bì được niêm phong có ký hiệu số vụ 526/2024, có chữ ký của giám định viên Lê Đức H, người chứng kiến niêm phong Trần Quốc T và các dấu tròn đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh K, bên trong có chứa 0,4613 gam ma túy Methamphetamine còn lại sau giám định và bao gói đựng mẫu.
- - 01 (một) đôi dép, không rõ nhãn hiệu, màu trắng, quai dép màu đen, đã qua sử dụng.
(hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 42/QĐ-VKS-AM ngày 19-8-2024 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Nguyễn Văn Q chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 17-9-2024)./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
