Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:

96/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Giang

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Hùng Bích
  2. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa

- Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thọ – Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Đặng Thiên K, sinh ngày 16 tháng 12 năm 2003, tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Số A khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không có; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Đạo Phật; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông Đặng Văn T (đã chết) và bà Trần Hồng V, sinh năm 1985; Bị cáo có 02 anh em, bị cáo là người thứ nhất; Bị cáo chung sống như vợ chồng với Lê Trọng N và có 01 con chung sinh năm 2018 với Nguyễn Văn L;

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15 tháng 12 năm 2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L. Bị cáo có tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Bà Nguyễn Thị Trang Đ, sinh năm 1996 (vắng mặt);
  • Cư trú: Tổ 113, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • + Ông Nguyễn Thành T1, sinh năm 1988 (vắng mặt);
  • Cư trú: Số E, Tổ 112, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • + Bà Nguyễn Tố Q, sinh năm 2000 (vắng mặt);
  • Cư trú: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • + Bà Trần Thị Thúy L1, sinh năm 1977 (có mặt);
  • Cư trú: Số F khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
  • · Người chứng kiến: Ông Võ Minh H, ông Bùi Quang T2 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29 tháng 11 năm 2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp Công an phường Đ, thành phố L tuần tra trên đường U đến trước cửa quán K3 thuộc khu vực khóm Đ, phường Đ, thành phố L, thì phát hiện Nguyễn Thị Trang Đ đi bộ trên vỉa hè công viên có biểu hiện nghi vấn, nên lực lượng tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra và làm việc, phát hiện và thu giữ trên người Đài 01 (một) bọc nilon trong suốt hàn kín, bên trong chứa tinh thể màu trắng nghi là ma túy. Đài khai tinh thể màu trắng bên trong bọc nilon này là ma túy đá mua của Đặng Thiên K để sử dụng một phần, một ít ma túy còn lại cất giữ trong người để dành sử dụng tiếp. Do đó, lực lượng Công an phường Đ tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ vật chứng. Đến 15 giờ 45 phút ngày 15 tháng 12 năm 2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy và Công an phường M, thành phố L kết hợp Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh A tuần tra trên địa bàn thành phố L. Khi đến khu vực tổ A, khóm Đ, phường M, thành phố L phát hiện Đặng Thiên K điều khiển xe mô tô biển số 64H1-240.12 có biểu hiện nghi vấn, nên yêu cầu K dừng xe để kiểm tra. Qua điều tra phát hiện trong hộc đựng đồ phía bên trái xe của K đang điều khiển có 01 hộp giấy màu hồng hình cô gái và 01 hộp giấy màu xanh, bên trong mỗi hộp có 01 bọc nilon trong suốt hàn kín có chứa tinh thể màu trắng, K khai là ma túy đá. Vì vậy, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người tội phạm quả tang và thu giữ vật chứng.

Kết quả điều tra xác định từ tháng 9 năm 2023 đến ngày 15 tháng 12 năm 2023, Đặng Thiên K đã nhiều lần mua ma túy của một thanh niên (không rõ nhân thân) tại khu vực cầu C, phường M, thành phố L, mỗi lần mua khoảng 900.000 đồng ma túy, đem về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để bán lại cho Nguyễn Thị Trang Đ, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Tố Q, C, B, K1, H1 (không rõ nhân thân) và nhiều người không rõ họ tên nhiều lần, với giá mỗi gói 150.000 đồng đến 500.000 đồng. Khi cần mua ma túy, những người mua điện thoại cho K số điện thoại 0765.410.xxx thỏa thuận số lượng, giá cả, địa điểm để giao ma túy và nhận tiền. Xe mô tô biển số 64H1-240.12, Kim mượn của Trần Thị Thúy L1.

Vật chứng và tài sản thu giữ gồm: 01 bọc nilon trong suốt hàn kín được niêm phong trong hộp giấy dán kín thu của Nguyễn Thị Trang Đ; 02 bọc nilon trong suốt hàn kín có chứa tinh thể màu trắng thu của Đặng Thiên K; 01 xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 64H1-240.12 (số khung JF66E0834064, số máy RLHJF 5817GY776523); 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu hồng, có gắn sim số 0765.410.952; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu vàng có gắn sim số; 01 bật lửa bằng kim loại màu xám; 01 dụng cụ hút thuốc lá điện tử màu đen; 01 hộp giấy màu hồng hình cô gái và 01 hộp giấy màu xanh; Tiền Việt Nam 1.300.000 đồng.

Các biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Công an phường Đ, ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Công an phường M, xác định T1, K, Đ: Dương tính với M.

Kết quả giám định số 229 ngày 02 tháng 12 năm 2023 của Phòng K4 Công an tỉnh A xác định: 01 hộp giấy được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường Đ, Công an thành phố L, tỉnh An Giang, 02 dấu vân tay màu đỏ có dấu gạch thập ghi tên Nguyễn Thị Trang Đ và các chữ ký ghi tên: Trần Thanh H2, Huỳnh Trung T3, Võ Minh H. Bên trong có: 01 bọc nilon trong suốt hàn kín bên ngoài có ghi số 3 màu đỏ chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng: 0,0145g (Kí hiệu M1). Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,0145g

Kết luận giám định số 236 ngày 17 tháng 12 năm 2023 của Phòng K4 Công an tỉnh A: 01 hộp giấy được niêm phong có in hình dấu tròn màu đỏ của Công an phường M, Công an thành phố L, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên: Trần Trung H3, Bùi Quang T2, Nguyễn Vinh H4, Đặng Thiên K. Bên trong có 02 bọc nilon trong suốt hàn kín chứa tinh thể màu trắng, có khối lượng: 0,9025g (Kí hiệu M1). Mẫu M1 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,9025g.

Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 20 tháng 02 năm 2024 của Công an thành phố L, xác định: Xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 64H1-240.12 số khung JF66E0834064, số máy RLHJF 5817GY776523, chủ xe Nguyễn Văn T4.

Nguyễn Thị Trang Đ, Nguyễn Thành T1 trình bày: Từ tháng 9 năm 2023 đến ngày 28 tháng 11 năm 2023, T1 mua ma túy của K 03 lần, Đ mua ma túy của K 04 lần, Khoảng 21 giờ ngày 28 tháng 11 năm 2023, Đ điện thoại cho K số 0765.410.xxx mua 300.000 đồng ma túy; lúc này T1 đến nhà Đ chơi nên Đ rủ T1 chở đi mua đồ ăn. Trên đường đi, Đài nhờ T1 chở vào đường K thuộc khu vực phường M, thành phố L chờ K đến. Sau đó, có người nam thanh niên điều khiển xe chở K đến giao ma túy cho Đ, ma túy Đ đem về nhà sử dụng một phần, phần còn lại để vào túi quần. Đến ngày 29 tháng 11 năm 2023, Đài bị phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Nguyễn Tố Q trình bày từ tháng 9 năm 2023, Q mua ma túy của K 07 lần với giá từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng để sử dụng.

Trần Thị Thúy L1 trình bày xe mô tô biển số 64H1-240.12 do L1 mua của một người (không nhớ tên, địa chỉ) với giá 24.000.000 đồng, có giấy tờ xe tên Nguyễn Văn T4. Ngày 15 tháng 12 năm 2023, L1 cho Kim mượn xe để sử dụng, không biết K dùng xe để giao ma túy; L1 yêu cầu được nhận lại xe.

Cáo trạng số 88/CT-VKSLX ngày 23 tháng 5 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo Đặng Thiên K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) (viết tắt là Bộ luật Hình sự)

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không có ý kiến tranh luận.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Đặng Thiên K, và đề nghị:

  • Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
  • Xử phạt bị cáo Đặng Thiên K từ 07 (bảy) năm đến 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  • Tịch thu tiêu hủy: Số lượng chất còn lại sau giám định trong 01 (một) bọc nylong trong suốt hàng kín được niêm phong trong hộp giấy dán kín thu của Nguyễn Thị Trang Đ và 02 (hai) bọc nylong trong suốt hàn kín có chứa tinh thể màu trắng thu của Đặng Thiên K; 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu xám; 01 (một) dụng cụ hút thuốc lá điện tử màu đen; 01(một) hộp giấy màu hồng hình cô gái; 01 (một) hộp giấy màu xanh.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 1.300.000 đồng là số tiền bị cáo K thừa nhận sử dụng để mua ma túy, thu lợi bất chính; 01 (một) điện thoại Iphone, màu hồng, có gắn sim số 0765410952 là phương tiện, công cụ bị cáo dùng để phạm tội.
  • Trả lại cho bị cáo K 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng, có gắn sim số; Trả lại cho bà L1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 64H1-240.12.
  • Buộc bị cáo giao nộp số tiền thu lợi bất chính (trung bình mỗi tháng bị cáo thu lợi 200.000 đồng từ việc bán ma túy) là 800.000 đồng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo đã ăn năn hối cải.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt. Quá trình điều tra, truy tố họ đã cung cấp lời khai; việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho xét xử; nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[1.2] Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

[2.1] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Có đầy đủ căn cứ xác định: Bị cáo Đặng Thiên K là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi nào là vi phạm pháp luật; nhưng để có thu nhập tiêu xài và sử dụng ma túy thỏa cơn nghiện, từ tháng 09 năm 2023 đến ngày 15 tháng 12 năm 2023, bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Riêng ngày 15 tháng 12 năm 2023, bị cáo bị phát hiện và thu giữ tổng cộng 0,917gam Methamphetamine. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố.

[2.2] Ma túy là một loại chất độc hại, phá hoại sự sống của con người, phá vỡ hạnh phúc gia đình và cũng là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Hành vi Mua bán ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện; xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nên cần áp dụng để xem xết cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đối với đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét thấy: “Tự thú là tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Người nào bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra đã tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội khác của mình mà chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tự mình nhận tội và khai ra những hành vi phạm tội của mình mà chưa bị phát hiện”. Trong vụ án này, qua công tác đấu tranh và xử lý vi phạm pháp luật đối với Nguyễn Thị Trang Đ, Nguyễn Thành T1, Nguyễn Tố Q thì đã xác định được bị cáo K có hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, hành vi phạm tội của bị cáo đã bị phát hiện trước khi bị cáo bị bắt. Ngay khi bị bắt giữ bị cáo không thừa nhận hành vi bán ma túy của mình, mà trong quá trình điều tra bị cáo mới thừa nhận và khai về những người mua ma túy khác (chưa rõ nhân thân) là để làm rõ tình tiết vụ án, thể hiện thái độ ăn năn hối cải của bị cáo. Vì vậy, không có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo K.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Đối với các vấn đề khác:

  • [5.1] Người bán ma túy cho K và người mua ma túy của K chưa rõ nhân thân, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L tiếp tục làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.
  • [5.2] Nguyễn Thị Trang Đ đã có hành vi tàng trữ 0,0145g Methamphetamine để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng do Đài chưa bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251 và 252 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không khởi tố đối với Đ về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định pháp luật.
  • [5.3] Nguyễn Thành T1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L đã đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành chính theo quy định pháp luật
  • [5.4] Nguyễn Văn Lâm sinh ngày 19 tháng 9 năm 1999 có hành vi giao cấu với Đặng Thiên K vào năm 2017 nhưng thời điểm phạm tội L chưa đủ 18 tuổi nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 12 ngày 21 tháng 01 năm 2019.
  • [6] Về vật chứng: Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc xử lý vật chứng là phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  • [7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Tuyên bố bị cáo Đặng Thiên K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Đặng Thiên K 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 15 tháng 12 năm 2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ các Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

2.1 Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) phong bì được niêm phong vụ số 229/KL-KTHS(MT-GT ngày 02 tháng 12 năm 2023 có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H5, Lê Văn K2);
  • 01 (một) phong bì được niêm phong vụ số 236/KL-KTHS(MT-GT ngày 17 tháng 12 năm 2023 có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L, tỉnh An Giang và chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H5, Lê Văn K2);
  • 01 (một) bật lửa bằng kim loại màu xám;
  • 01 (một) dụng cụ hút thuốc lá điện tử màu đen;
  • 01(một) hộp giấy màu hồng hình cô gái; 01 (một) hộp giấy màu xanh.

2.2 Tịch thu nộp ngân sách nhà nước:

1.300.000 đồng (một triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu hồng, có gắn sim số 0765410952, chưa kiểm tra chất lượng bên trong (đã qua sử dụng).

2.3 Trả lại cho Đặng Thiên K:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu vàng, chưa kiểm tra chất lượng bên trong (đã qua sử dụng);

Trả lại cho bà Trần Thị Thúy L1 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Vision biển số 64H1-240.12, số khung JF66E0834064, số máy RLHJF 581GY776523.

2.4 Buộc Đặng Thiên Kim giao n ngân sách nhà nước số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).

(Đặc điểm tang vật như Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 29 tháng 5 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L với Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L và Ủy nhiệm chi số 19 ngày 29 tháng 5 năm 2024 đơn vị trả tiền: Công an thành phố L, đơn vị nhận tiền: Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên).

3. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Đặng Thiên K phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tp. Long Xuyên (1);
  • - Sở Tư pháp (1);
  • - Nhà tạm giữ Công an tp. Long Xuyên (1);
  • - CQTHAHS Công an tp. Long Xuyên (1);
  • - CQĐT Công an tp. Long Xuyên (1);
  • - Chi cục THADS tp. Long Xuyên (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Người có QLNVLQ (4)
  • - Bộ phận THA Tòa án (4);
  • - Lưu hồ sơ (1);
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thùy Giang

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Hùng Bích Huỳnh Thị Thúy Hoa Nguyễn Thùy Giang
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger