Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HS-ST

Ngày: 17-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Hiếu Hạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Huỳnh Hậu;
  2. Bà Hà Thị Gái.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Sương – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 95/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Đăng H (tên gọi khác: Không có), sinh ngày: 24/6/2000 tại tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số H N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: Phụ bếp; trình độ học vấn: 10/12, con ông: Lê Trung H1 (sinh năm 1966) và bà: Đào Kim T (sinh năm 1967); Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/4/2024. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trần Thảo D, sinh năm 2008 (vắng mặt).

Hộ khẩu thường trú: Ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn L – chủ cửa hàng sửa chữa điện thoại Cường T1 (vắng mặt)

Địa chỉ: Số F đường C, Phường H, Quận A, Tp .

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/3/2024, Lê Đăng H đến tiệm Internet NET GO, địa chỉ số: C H, Phường E, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh chơi game đến khoảng 04 giờ 00 phút, H đứng dậy đi vệ sinh thì nhìn thấy chị Trần Thảo D nằm ngủ trên ghế, trên bàn có để 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 256 GB màu trắng nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. H chui xuống gầm bàn bò lại gần chỗ chị D, dùng tay lấy chiếc điện thoại của chị D rồi bò ngược lại chỗ của mình. H bỏ điện thoại vào túi đeo chéo và mang theo chiếc ba lô đi ra yêu cầu nhân viên tiệm net mở cửa đi về. Khoảng 08 giờ cùng ngày, H đem chiếc điện thoại đã chiếm đoạt được trên đến Cửa hàng sửa chữa điện thoại Cường T1 – địa chỉ số: 625, Đường C, Phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh gặp ông Nguyễn Văn L nói là điện thoại nhặt được, không biết mật khẩu và bán cho ông L được 250.000 đồng. Sau khi thức dậy, chị D không tìm thấy chiếc điện thoại của mình nên cho nhân viên tiệm Intrenet NET GO trích xuất camera của tiệm Internet ghi nhận được hình ảnh H đã lấy điện thoại của chị D. Do có việc gia đình nên chị D đã đón xe về quê ở An Giang mà không trình báo Công an. Đến ngày 10/4/2024, H quay lại tiệm I chơi game thì bị nhân viên tiệm là anh Hoàng Hà S phát hiện, điện thoại cho chị Trần Thảo D đến. Sau đó, anh S cùng chị D đưa H đến Công an P, Quận A trình báo và toàn bộ vụ việc được chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q để điều tra làm rõ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã cho H chỉ điểm và thu hồi vật chứng là chiếc điện thoại Iphone 11 Promax màu trắng 256 GB mà H đã bán cho ông L.

Kết luận định giá tài sản số: 696/KL-HDĐGTS ngày 19/4/2024, Hội đồng định giá thường xuyên tài sản trong tố tụng hình sự kết luận tại thời điểm ngày 28/3/2024: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu APPLE, hàng chính hãng, tên kiểu máy Iphone 11 ProMax màu trắng 256 GB, phiên bản quốc tế, dung lượng RAM 4 GB, có số IMEI 352845111964781 - Số IMEI_2 352845111853893, sản xuất tại Trung Quốc có trị giá 7.600.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, bị can Lề Đăng H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai của phù hợp với biên bản kiểm tra camera tại hiện trường vụ án, lời khai người bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác Cơ quan điều tra đã thu thập được.

Vật chứng, tài sản thu giữ:

  • 01 USB chứa nội dung ghi hình hành vi phạm tội của bị can H2 tại tiệm Internet NET GO; 01 đĩa VCD chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của bị can H2 (lưu theo hồ sơ vụ án)
  • 01 chiếc quần dài màu xám của bị can Lê Đăng H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 đã có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý.
  • 01 (một) ĐTDĐ chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax màu trắng 256 GB, phiên bản quốc tế, dung lượng RAM 4 GB, có số IMEI 352845111964781 - Số IMEI_2 352845111853893, sản xuất tại Trung Quốc – là tài sản của chị Trần Thảo D bị chiếm đoạt. Cơ quan điều tra đã lập biên bản trả lại cho chị D.

Về dân sự: Bị hại là chị Trần Thảo D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L đều không yêu cầu bồi thường về dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 91/CT-VKSQ10 ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Đăng H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

  • Bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, bị hại, nêu lên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Lê Đăng H mức án từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
  • Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] ]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Đăng H không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

[2] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:

Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là phù hợp. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định bị cáo Lê Đăng H đã lcó hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11 Pro Max 256 GB màu trắng, trị giá 7.600.000 đồng, của chị Trần Thảo D nên bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017) là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Xét bị cáo là người có năng lực hành vi, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình nhưng vì tham lam muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, bị cáo cần phải bị xử phạt nghiêm minh bằng luật hình tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của mình gây ra, cụ thể cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo thành người tốt cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương.

  • Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
  • Về tình tiết tăng nặng: Không có.

[4] Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:

  • 01 USB chứa nội dung ghi hình hành vi phạm tội của bị cáo H tại tiệm Internet NET GO; 01 đĩa VCD chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của bị cáo H (lưu theo hồ sơ vụ án).
  • 01 chiếc quần dài màu xám của Lê Đăng H mặc khi thực hiện hành vi phạm tội không có giá trị nên tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Trần Thảo D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn L đều không yêu cầu bồi thường về dân sự. Do đó, Tòa án không xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Lê Đăng H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 15/4/2024.

Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015

Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa nội dung ghi hình hành vi phạm tội của bị cáo H tại tiệm Internet NET GO; 01 đĩa VCD chứa nội dung ghi âm, ghi hình lời khai của bị cáo H.

Tiêu hủy: 01 chiếc quần dài màu xám.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 96/QĐ-VKS ngày 14/6/2024)

Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng;

2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đối với bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
  • - TAND TP.HCM; (1)
  • - VKSND TP.HCM (1)
  • - VKSND Quận 10; (2)
  • - Công an Quận 10; (1)
  • - Chi cục THADS Quận 10; (1)
  • - Người tham gia tố tụng; (2)
  • - Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Hiếu Hạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 96/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Đăng Hiền bị VKSND Q10 truy tố về tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger