TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17 - 7 - 2024
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hải Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hoàng Bảy
- Bà Tăng Thị Bạch Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Hồng Trang – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Dương Thanh Hậu – Kiểm sát viên
Ngày 17 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 98/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXX-ST ngày 07 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Võ Thị Kim M, sinh năm: 1977
Địa chỉ: ấp F, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Địa chỉ tạm trú: ấp A, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Số điện thoại: 0383.544.xxx
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ú, sinh năm: 1982.
Địa chỉ: ấp F, xã B, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.
Số điện thoại: 0818.651.xxx
(Chị M có mặt; Anh Ú vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 01/3/2024, nguyên đơn là chị Võ Thị Kim M1 trình bày:
Chị Võ Thị Kim M và anh Nguyễn Văn Ú có tổ chức đám cưới vào năm 2018 và có đăng ký kết hôn vào năm 2020. Trong quá trình chung sống có 01 người con chung tên: Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018. Trong thời gian, đầu hai vợ chồng sống chung rất hạnh phúc. Tuy nhiên, gần đây hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn tiếng nói chung. Nhận thấy hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị M yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Ú.
Về con chung: tại phiên Tòa, chị Võ Thị Kim M đồng ý giao con chung tên Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018 cho anh Nguyễn Văn Ú nuôi dưỡng, Chị Võ Thị Kim M không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Võ Thị Kim M xác định là tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn Ú vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phát biểu:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và tư cách của người tham gia tố tụng đã tuân thủ theo đúng quy định Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Theo các tài liệu thể hiện trong hồ sơ và tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhận thấy quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã mâu thuẫn trầm trọng, đồng thời, nguyên đơn cương quyết ly hôn với bị đơn. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nguyên đơn
Về con chung: Do con chung tên là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018 đang ở cùng với bị đơn, đồng thời nguyên đơn cũng có ý kiên đồng ý giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục giao con chung tên là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018 cho bị đơn nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do bị đơn không có yêu cầu nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung: do nguyên đơn khai tự thỏa thuận nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về nợ chung: do nguyên đơn khai không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
Về án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên Tòa, bị đơn vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, Tòa án đã tiến hành các thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho bị đơn đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt. Cho nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2, Điều 227 và khoản 1, Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Bởi lẽ, nguyên đơn có ý kiến cương quyết đòi ly hôn với bị đơn, đồng thời xác định không còn tình cảm gì đối với bị đơn nữa. Vì vậy, đã đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: theo lời khai của nguyên đơn cũng như các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thì nguyên đơn và bị đơn có con chung tên là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018, đang ở cùng với bị đơn. Tại phiên Tòa, nguyên đơn có ý kiến đồng ý giao con chung cho bị đơn nuôi dưỡng. Xét thấy, để tránh những xáo trộn trong đời sống, tâm sinh lý, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến việc phát triển bình thường của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của nguyên đơn về nuôi con chung, tiếp tục giao con chung tên là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018 cho bị đơn nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Do nguyên đơn không có ý kiến tự nguyên cấp dưỡng nuôi con và bị đơn cũng không có yêu cầu nên không có căn cứ để Hội đồng xét xử phải đặt ra giải quyết.
[5] Về tài sản chung: Do nguyên đơn khai tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[6] Về nợ chung: Do nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[7] Về án phí HNST: Nguyên đơn phải chịu án phí HNST.
[8] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Võ Thị Kim M và anh Nguyễn Văn Ú.
- Về con chung: Giao con chung tên là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018 cho anh Nguyễn Văn Ú trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến tuổi thành niên – đủ 18 tuổi.
Chị Võ Thị Kim M có quyền, nghĩa vụ thăm nom các con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Võ Thị Kim M không phải cấp dưỡng nuôi con chung tên là Nguyễn Hữu N, sinh ngày 31/03/2018 do anh Nguyễn Văn Ú không có yêu cầu.
- Về tài sản chung: Do chị Võ Thị Kim M khai tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
- Về nợ chung Do chị Võ Thị Kim M khai không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
- Về án phí, chi phí tố tụng: Chị Võ Thị Kim M phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân sơ thẩm. Chị Võ Thị Kim M (Võ Thị Kim M1) đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0003737 ngày 22/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kế Sách không phải nộp tiếp.
- Án xử công khai, chị Võ Thị Kim M có mặt tại phiên Tòa và có mặt khi tuyên án.
Anh Nguyễn Văn Ú không có mặt tại phiên Tòa và cũng không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Hải Duy |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Hải Duy
Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
