Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THẠCH THÀNH

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 96/2023/HSST

Ngày: 16/11/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Tân (Cán bộ đoàn)

2. Bà Quách Thị Tình

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Tuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 16/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2023/TLST-HS, ngày 12/10/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2023/QĐXXST-HS, ngày 02/11/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn H; Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 24 tháng 5 năm 2002 - tại Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn F, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ : Không; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên bố: Lê Văn Hiệp H1 và tên mẹ: Trần Thị T; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2023 đến ngày 08/06/2023 chuyển tạm giam cho đến nay, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Thanh Hoá.

*Những người tham gia tố tụng:

  • - Bị hại: Cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 24/8/2008, trú tại thôn K, xã K, huyện V, Thanh Hóa. (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  • - Người đại diện hợp pháp cho cháu Lan A1 là: ông Nguyễn Văn C – Sinh năm 1979; Địa chỉ: trú tại thôn K, xã K, huyện V, Thanh Hóa. (có mặt)
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Nguyễn Thị Lan A là: Ông Phạm Thanh T1 – Trợ giúp viên pháp lý của chi nhánh T2 pháp lý số 05 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Địa chỉ: thị trấn K, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có quan hệ yêu đương nam nữ nên khoảng đầu tháng 5/2023, trong quá trình đến nhà bạn chơi, Lê Văn H sinh năm 2002, trú tại thôn F, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa đã gặp và quen biết với cháu Nguyễn Thị Lan A sinh ngày 24/8/2008, trú tại thôn K, xã N, huyện V, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi gặp, quen biết nhau, giữa Lê Văn H và cháu Lan A1 thường xuyên nhắn tin nói chuyện với nhau trên mạng xã hội Facebook, đến khoảng giữa tháng 5/2023 thì cả hai nảy sinh tình cảm yêu đương nam nữ với nhau. Quá trình nói chuyện với nhau, H biết cháu Lan A1 chưa có điện thoại di động, phải mượn điện thoại của mẹ để nói chuyện với mình nên H hứa hẹn sẽ mua điện thoại di động tặng cho cháu Lan A1. Khoảng trưa ngày 29/5/2023, Lê Văn H nhắn tin hẹn gặp cháu Lan A1 để đi mua điện thoại thì cháu Lan A1 đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, cháu Lan A1 nhờ bạn chở đến cây xăng xã V, huyện V để gặp Lê Văn H. Khi gặp H, cháu Lan A1 bảo bạn về trước, còn mình thì lên ngồi phía sau xe mô tô do H điều khiển, di chuyển về hướng huyện T. Trên đường đi, H nói với cháu Lan A1 “tý nữa cho anh làm cái”, ý H muốn nói cháu Lan A1 cho H quan hệ tình dục với cháu Lan A1. Nghe và hiểu ý của H nên cháu L đồng ý và trả lời H “vâng”. Sau đó, Lê Văn H điều khiển xe mô tô chở cháu Lan A1 đến cổng nhà văn hoá thôn A, xã T, huyện T và nói cháu Lan A1 đứng đợi, còn H điều khiển xe đến nhà bạn mình là anh Phạm Minh N, sinh năm 2003 ở gần đó gửi xe rồi đi bộ quay lại. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi đi đến vị trí cháu Lan A1 đang đứng chờ, H cầm tay dẫn cháu Lan Al đi vào phía sau, đứng sát ở vị trí tường hông bên phải hội trường thôn, nói cháu Lan A1 đứng khom người xuống, quay lưng về phía H, còn H đứng ở phía sau, dùng tay tụt quần dài, quần lót của cháu Lan Al xuống, rồi tự tụt quần mình xuống, dùng tay đưa dương vật của mình vào bên trong âm đạo và quan hệ tình dục với cháu Lan A1. H quan hệ tình dục với cháu Lan A1 được khoảng 02 phút thì xuất tinh vào trong âm đạo của cháu Lan Al, rồi dùng tay kéo quần của cháu Lan A1 và của mình lên. Sau đó, H dẫn cháu Lan Al ra khỏi nhà văn hoá thôn rồi nói cháu Lan A1 đứng đợi H vào nhà bạn lấy xe chở về. Do thấy xe mô tô của mình gần hết xăng nên H đã mượn xe mô tô của mẹ anh Nghĩa là bà Tào Thị C1 để đưa cháu Lan A1 về. Trên đường về, cháu Lan A1 nói với H “mua cho em viên thuốc tránh thai, em sợ có bầu bố mẹ biết” nên H điều khiển xe đi đến hiệu thuốc tại xã V mua cho cháu Lan A1 một viên thuốc tránh thai để cháu Lan A1 uống. Sau khi uống thuốc xong, H chở cháu Lan A1 về thì xe mô tô bị thủng xăm nên cả hai dắt bộ xe mô tô quay lại nhà anh N để trả xe cho bà C1 rồi lấy xe mô tô của H để chở cháu Lan A1 về. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe đi đến đoạn đường đê thôn B, thuộc xã V, huyện V thì xe hết xăng, nên cả hai tiếp tục xuống dắt bộ xe quay lại nhà anh N để xin xăng. Khi đi đến đoạn đường gần giáp danh giữa huyện V và huyện T thì H hỏi cháu Lan A1 “uống thuốc rồi yên tâm chưa?", cháu Lan A1 trả lời “yên tâm rồi”, H tiếp tục nói với cháu Lan A1 “cho anh làm cái nữa rồi về”, ý H muốn nói cháu Lan A1 cho H quan hệ tình dục với cháu Lan A1 một lần nữa. Khi cháu L đồng ý và trả lời H “vầng” thì H dựng xe sát mép đường bên phải theo hướng di chuyển, H và Lan A1 đứng phía sau bên trái xe mô tô, tiếp tục quan hệ tình dục với nhau theo cách thức, tư thế như lần trước đó. Sau khi quan hệ tình dục với nhau xong, cả hai tiếp tục dắt bộ xe về nhà anh N, sau đó, H rút xăng từ xe bà C1 sang xe mình rồi chở cháu Lan A1 về nhà. Khi H chở cháu Lan A1 về đến thôn K, xã N, huyện V thì bố cháu Lan A1 là ông Nguyễn Văn C, đang đi tìm cháu Lan A1 phát hiện cháu Lan A1 đang ngồi phía sau nên đã yêu cầu H dừng xe để nói chuyện. Quá trình nói chuyện, ông C được biết H đã có 02 lần quan hệ tình dục với cháu Lan A1 nên đã đến Công an xã N tố giác hành vi của H. Đến 01 giờ 40 phút ngày 30/5/2023, H đến Công an xã N, huyện V đầu thú và khai báo về hành vi phạm tội của bản thân.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 51/2023/KLTDTE-PYTH ngày 16/6/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận: tại thời điểm khám giám định pháp y về tình dục đối với cháu Nguyễn Thị Lan A: Soi tinh trùng: Hiện tại thấy hình ảnh xác tinh trùng trên mẫu thu được từ âm đạo của Nguyễn Thị Lan A; Test PSA: Dương tính (có tinh dịch trên các mẫu dịch thu được từ bộ phận sinh dục của Nguyễn Thị Lan A); Môi lớn: Không thấy tổn thương; Môi bé: Không thấy tổn thương; Âm hộ: Không thấy tổn thương; Màng trinh rách cũ vị trí 3 giờ. Tại thời điểm giám định pháp y về tình dục: không đủ chứng cứ khoa học và các dữ liệu khách quan để xác định chính xác về thời gian rách màng trinh của Nguyễn Thị Lan A; Các bộ phận khác không thấy tổn thương; Nguyễn Thị Lan A không có thai; Dấu vết trên tăm bông thu mẫu chất bám dính tại bộ phận sinh dục của Nguyễn Thị Lan A có AND nhiễm sắc thể Y, trùng khớp với AND nhiễm sắc thể Y từ mẫu tóc của Lê Văn H.

Quá trình điều tra xác định, ngoài 02 lần quan hệ tình dục vào tối ngày 29/5/2023 với Lê Văn H, cháu Nguyễn Thị Lan A không có lần nào khác quan hệ tình dục với H hoặc người khác. Việc H quan hệ tình dục với cháu Lan A1 không có sự cưỡng ép, đe dọa, trái ý muốn mà có sự đồng thuận của cháu Lan A1, xuất phát từ tình cảm cá nhân giữa H và cháu Lan A1. Tại thời điểm H và cháu Lan A1 quan hệ tình dục với nhau, H đã trên 18 tuổi, còn cháu Lan A1 14 tuổi 9 tháng 05 ngày tuổi. Tại thời điểm giám định và hiện tại, cháu Lan A1 không có thai.

Quá trình điều tra vụ án, đại diện bị hại yêu cầu Lê Văn H bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), Lê Văn H chưa bồi thường, hỗ trợ cho gia đình bị hại khoản tiền nào.

Xác minh điều kiện kinh tế, thu nhập của Lê Văn H xác định, bị cáo hiện sống cùng nhà với bố mẹ, không có tài sản chung, tài sản riêng, bản thân H là lao động tự do, không có công việc, thu nhập ổn định.

Đối với 01 chiếc quần dài màu đen, 01 chiếc áo phông màu đen, 01 chiếc áo ngực màu trắng, 01 chiếc quần lót màu trắng tạm giữ của cháu Nguyễn Thị Lan A để phục vụ công tác giám định, xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra đã trả lại cho cháu Lan A1, cháu Lan A1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSTT ngày 12/10/2023, Viện Kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Lê Văn H về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS)

Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt Lê Văn H mức án từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và người đại diện hợp pháp cho bị hại đã thỏa thuận được mức bồi thường thiệt hại là 30.000.000₫ nên đề nghị HĐXX ghi nhận buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại khoản tiền trên.

Tại phiên tòa: Lê Văn H thừa nhận khoảng 19 giờ 30 phút đến 21 giờ ngày 29/5/2023 bị cáo có quan hệ tình dục với cháu Nguyễn Thị Lan A hai lần. Lần đầu quan hệ tình dục ở nhà văn hóa thôn A2, xã T và lần 2 quan hệ hình dục với Lan A1 ở trên đê thôn B, xã V, huyện V, T. Diễn biến hành vi phạm tội như bản cáo trạng mô tả đối với bị cáo là đúng, bị cáo rất ăn năn hối hận về hành vi phạm tội đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đối với yêu cầu bồi thường cho bị hại số tiền 30.000.000đ bị cáo thống nhất bồi thường như yêu cầu của bị hại.

Tại phiên tòa người bị hại thống nhất với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, phần dân sự yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 30.000.000đ, phần hình phạt trong vụ án đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu Lan A1 trình bày quan điểm bảo vệ: Thống nhất với bản cáo trạng mô tả về hành vi phạm tội của bị hại, thống nhất lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa. Thống nhất với cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của bị cáo và người đại diện cho bị hại về số tiền bồi thường, buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền như đã thỏa thuận.

Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HĐXX

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, HĐXX nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại, người đại diện cho bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Bị cáo là người đã thành niên trong thời gian khoảng 19 giờ 30 phút đến 21 giờ ngày 29/5/2023 bị cáo có quan hệ tình dục với cháu Nguyễn Thị Lan A hai lần. Lần đầu quan hệ tình dục ở nhà văn hóa thôn A2, xã T và lần 2 quan hệ hình dục với Lan A1 ở trên đê thôn B, xã V, huyện V, T. Bị cáo đã thực hiện nhiều lần quan hệ tình dục (giao cấu) có sự đồng ý của cháu Nguyễn Thị Lan A nhưng thời điểm quan hệ tình dục cháu Lan A1 mới 14 tuổi 09 tháng 05 ngày tuổi (Là trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi). Do đó bị cáo đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 BLHS. Cáo trạng mà VKSND huyện Thạch Thành đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, và có các tình tiết giảm nhẹ là: “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, sau khi phạm tội đến cơ quan công an đầu thú, gia đình có ông là người có công với nhà nước. Tại phiên tòa người đại diện cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS khi lượng hình HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo một phần.

[4]. Về tính chất của vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng do Lê Văn H thực hiện, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sự phát triển bình thường về thể chất và tâm sinh lý của trẻ em trong độ tuổi từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến thuần phong mỹ tục. Do đó, HĐXX nhận thấy cần thiết phải xét xử nghiêm cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo và người đại điện cho bị hại thống nhất được số tiền bồi thường cho sức khỏe, danh dự nhân phẩm bị xâm phạm đối với cháu Lan A1 với số tiền là 30.000.000đ. HĐXX xét thấy sự thỏa thuận là tự nguyện nên Căn cứ Điều 584, 585, 590, 592 BLDS buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường số tiền trên cho bị hại là phù hợp.

[6]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn H 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 30/05/2023.

Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Điều 584, 585, 590, 592 BLDS; Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06/09/2022 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Khoản 1 Điều 6, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn H phải bồi thường cho cháu Nguyễn Thị Lan A tổng số tiền là: 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng). Khoản tiền bồi thường này được thi hành ngay mặc dù bản án có thể bị kháng cáo, kháng nghị.

Từ khi cháu Nguyễn Thị Lan A hoặc người đại diện hợp pháp cho cháu A có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án khoản tiền bồi thường, hàng tháng bị cáo còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại điều 357, khoản 2 Điều 468 BLDS trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử kín sơ thẩm, có mặt bị cáo, có mặt người đại diện theo pháp luật của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại. Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người bị hại;
  • - VKSND huyện Thạch Thành;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Công an huyện Thạch Thành;
  • - Đội THAHS công an Thạch Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2023/HSST ngày 16/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 96/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger