Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN ĐỀ

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16 - 9 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp

về nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Mỹ Xuyên

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Trần Huy Tùng.

Bà Võ Thị Nhì.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Khánh Huy –Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Bích Ngọc – Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 214/2024/TLST-HNGĐ, ngày 17 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Lâm Thị Q; Sinh năm: 1992. Địa chỉ: Số E, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: Lý T; Sinh năm: 1993. Địa chỉ: Số G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 7 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lâm Thị Q trình bày:

Về hôn nhân: Bà Lâm Thị Q và ông Lý T kết hôn năm 2013 trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận kết hôn số 91/2013, ngày 12/03/2013. Thời gian đầu chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Nhưng đến năm 2022, thì vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Nguyên nhân là do ông T thường xuyên chơi bời, cờ bạc, rượu chè, không tập trung làm ăn, ông T cũng không quan tâm, chăm sóc gia đình. Bà Q cũng đã nhiều lần khuyên can, nói chuyện, nhưng ông T vẫn không thay đổi. Bà Q và ông T sống ly thân từ tháng 9/2022 cho đến nay. Nay bà Q xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Lý T không còn, nên bà Q yêu cầu ly hôn với ông Lý T;

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà Lâm Thị Q và ông Lý T có 02 người con chung tên Lý Hoàng K, sinh ngày 11/12/2013 và Lý Đăng K1, sinh ngày 18/11/2014. Hiện tại, cháu K và cháu K1 đang sống chung với bà Q. Bà Lâm Thị Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Hoàng K, sinh ngày 11/12/2013 và Lý Đăng K1, sinh ngày 18/11/2014 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông Lý T phải cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà Q và ông Lý T không có tài sản chung và không có nợ chung, nên bà Q không có yêu cầu gì.

* Bị đơn là ông Lý T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ mà vẫn cố tình vắng mặt, nên Tòa án không thể tiến hành hòa giải, ông Lý T không gửi văn bản ghi ý kiến của mình cũng như không đến tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông Lý T.

* Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Trong vụ án này Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng đối với bị đơn không chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là xử cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn, xử giao cháu Lý Hoàng K, sinh ngày 11/12/2013 và Lý Đăng K1, sinh ngày 18/11/2014 cho bà Q nuôi dưỡng đến khi thành niên; Về tài sản chung và nợ chung, không có đề nghị gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Ông Lý T là bị đơn trong vụ án, ông Lý T đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt ông Lý T.

[1.2] Đối với nguyên đơn bà Lâm Thị Q đã có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Q.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa bà Lâm Thị Q và ông Lý T là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống hạnh phúc, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nhưng ông bà không tìm giải pháp bàn bạc về việc hôn nhân của ông bà nhằm tạo điều kiện chung sống lại với nhau. Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 7 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bà Lâm Thị Q yêu cầu được ly hôn với ông Lý T là hoàn toàn có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Q. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình xử cho bà Q được ly hôn với ông Lý T.

[2.2] Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Q và ông Lý T có 02 người con chung tên Lý Hoàng K, sinh ngày 11/12/2013 và Lý Đăng K1, sinh ngày 18/11/2014. Hiện tại, cháu K và cháu K1 đang sống chung với bà Q. Tại đơn khởi kiện đề ngày 03 tháng 7 năm 2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bà Lâm Thị Q yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Lý Hoàng K, sinh ngày 11/12/2013 và Lý Đăng K1, sinh ngày 18/11/2014 cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông Lý T phải cấp dưỡng nuôi con. Đối với bị đơn là ông Lý T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về nội dung yêu cầu của bà Q, nhưng ông Lý T không có văn bản trả lời về nội dung yêu cầu của bà Q. Hội đồng xét xử xét thấy: Từ khi bà Q và ông Lý T sống ly thân cho đến nay thì cháu K và cháu K1 sống chung với bà Q. Tại biên bản ghi nguyện vọng của cháu K và cháu K1 ngày 06/8/2024 thì cháu K và cháu K1 cũng có nguyện vọng sống chung với bà Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình giao cháu Lý Hoàng K, sinh ngày 11/12/2013 và Lý Đăng K1, sinh ngày 18/11/2014 cho bà Q nuôi dưỡng đến khi thành niên, do bà Q không yêu cầu ông Lý T phải cấp dưỡng nuôi con, nên ông Lý T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông Lý T, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Thị Q không có yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị Q phải chịu nghĩa vụ án phí đối với vụ án hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng; Ông Lý T không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên quyền kháng cáo cho các đương sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và Lệ phí; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lâm Thị Q.

  1. Về hôn nhân: Xử cho bà Lâm Thị Q được ly hôn với ông Lý T.
  2. Về con chung: Giao cháu Lý Hoàng K, sinh ngày 11/12/2013 và Lý Đăng K1, sinh ngày 18/11/2014 cho bà Q trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi cháu K và cháu K1 thành niên. Ông Lý T không phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho ông Lý T, không ai được cản trở theo quy định tại khoản 3 Điều 82, khoản 2 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Q không có yêu cầu gì, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Lâm Thị Q phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình, nhưng bà Q được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004327 ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà Q đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm; Ông Lý T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bà Lâm Thị Q và ông Lý T có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Trần Đề;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Đề;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Mỹ Xuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 96/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Lâm Thị Q yêu cầu ly hôn với ông Lý Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger