Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 96/2024/DS-ST

Ngày: 16/7/2024

Về việc: “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên.
  2. Ông Trần Chính .

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Diệu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân TP Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2023/TLST-DS ngày 16 tháng 02 năm 2023, về việc tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 127/2024/QĐXX-ST ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 899/2024/QĐST-DS ngày 27/6/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q;

Trụ sở: Tầng A(Tầng trệt) và Tầng B, Tòa nhà S - A A, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Tổng Giám đốc;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thu H – Chức vụ: Giám đốc Trung tâm quản lý nợ ngân hàng B (Theo giấy ủy quyền số 107064.22 ngày 03/10/2022);

Trần Thị Thu H ủy quyền lại cho ông Phan Hồng H1, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tầng F, Tòa nhà P số B U, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (Theo giấy ủy quyền số 100 442.24 ngày 21/5/2024);

- Bị đơn:

  1. Nguyễn Thị Thu T, sinh năm 1986;
  2. Ông Đinh Ngọc H2, sinh năm 1976;

Cùng địa chỉ: A, khu phố I, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1975;
  2. Anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1995;
  3. Chị Nguyễn Thị Kiều N1, sinh năm 2000;
  4. Anh Chị Nguyễn Liu An K, sinh năm 2004

Cùng địa chỉ: khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.

(Ông H1, bà N có mặt; bà T, ông H2 vắng mặt; anh V1, chị N1, anh K có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 13/10/2022, lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Phan Hồng H1 trình bày:

Ngân hàng TMCP Q (V2) đã ký với bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 các Hợp đồng tín dụng/ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản, cụ thể như sau:

- Hợp đồng tín dụng số: 9698597.20 ngày 27/10/2020 với nội dung: VIB cho bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 vay số tiền 1.000.000.000 đồng; Mục đích vay vốn: bù đắp tiền nhận chuyển nhượng bất động sản tại số D Q, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh của bên được cấp tín dụng; Thời hạn vay: 360 tháng từ ngày 30/10/2020 đến ngày 30/10/2050. Lãi suất tại thời điểm giải ngân: 8,7%/năm. Lãi suất này sẽ được V2 chủ động điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm; Hoàn trả khoản tín dụng gốc hàng tháng vào ngày 10, từ tháng thứ 01 đến tháng thứ 60 trả 700.000đồng/ tháng, từ tháng thứ 61 đến tháng thứ 359 trả 3.190.000 đồng/tháng, tháng cuối cùng trả hết số tiền còn lại, ngày trả lãi vào ngày 10 hàng tháng. Trả phí: theo quy định của V2 từng thời kỳ.

Ngày 30/10/2020, V2 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6939340.20 ngày 30/10/2020 với số tiền 1.000.000.000 đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với HĐTD.

- Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 30/10/2020, V2 đồng ý cấp thẻ tín dụng cho bà Nguyễn Thị Thu T; loại thẻ: Thẻ tín dụng Travel Elite; hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng; lãi suất, phí: Theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng VIB.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 đã vi phạm nội dung thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng/ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiệm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản đã ký, khoản vay đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 10/6/2002 và chuyển nợ quá hạn từ ngày 15/9/2022.

Tạm tính đến ngày 16/7/2024, bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 đã trả cho V2 số tiền tổng cộng là 157.525.869 đồng (trong đó: nợ gốc 10.500.000 đồng, nợ lãi 147.025.209 đồng).

* Biện pháp bảo đảm tiền vay:

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tọa lạc tại Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 32, khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 648749, số vào sổ cấp GCN: CS06078, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 09/10/2020, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L cập nhật thay đổi chủ sở hữu/chủ sử dụng cho bà Nguyễn Thị Thu T ngày 23/10/2020. Tài sản này được thế chấp tại Ngân hàng V2 theo Hợp đồng thế chấp số: 8226748.20.601 ngày 28/10/2020, số công chứng: 2477, quyền số 10/TP/CC-SCC/HĐGD do phòng C, tỉnh Đồng Nai chứng nhận và được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/10/2020.

Từ những nội dung đã trình bày trên, Ngân hàng TMCP Q đề nghị Tòa án giải quyết những yêu cầu sau:

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP Q (V2) ngay sau khi Bản án/Quyết định có hiệu lực thi hành, số tiền tạm tính đến ngày 16/7/2024 là: 1.586.762.636 đồng. Trong đó, nợ gốc 1.066.079.565đ; lãi trong hạn 65.219.074đ; lãi quá hạn 434.049.522đ; phí là 21.414.475đ. Bao gồm:
    • + Khoản nợ của hợp đồng tín dụng số 9698597.20 là: Nợ gốc 989.500.000 đồng, lãi trong hạn là 65.219.074đ, lãi quá hạn là 405.950.714đ; Phí 0 đồng; Tổng cộng là 1.460.669.788đ;
    • + Khoản nợ thẻ tín dụng là: Nợ gốc 76.579.565 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn là 28.098.808đ, phí là 21.414.475đ; Tổng cộng 126.092.848đ.
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải tiếp tục trả lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 17/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký (Hợp đồng tín dụng số 9698597.20 ngày 27/10/2020, Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6939340.20 ngày 30/10/2020 và Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử

dụng tài khoản ngày 30/10/2020).

Trong trường hợp bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho V2, đề nghị Tòa án tuyên Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Bất động sản tọa lạc tại Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 32, khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 648749, số vào sổ cấp GCN: CS06078, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 09/10/2020, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/chủ sử dụng ngày 23/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Thu T và toàn bộ vật phụ, trang thiết bị kèm theo và phần giá trị công trình, diện tích cải tạo, đầu tư xây dựng thêm gắn liền với diện tích nhà đất đã thế chấp để thu hồi nợ vay cho Ngân hàng V2. Bất kỳ sự thay đổi, sửa chữa, nâng cấp nào của bà T đối với tài sản thế chấp làm tăng giá trị thực tế của tài sản thế chấp sẽ được coi là bộ phận không thể tách rời thuộc tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay cho V2 (theo Hợp đồng thế chấp số: 8226748.20.601 ngày 28/10/2020).

- Đề nghị Toà xem xét giải quyết khoản chi phí tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2: Theo kết quả xác minh, không còn cư trú tại địa chỉ: A, khu phố I, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai từ năm 2021 mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú mới. Tòa án đã thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án đối với bị đơn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị đơn không đến Tòa án làm việc, không ủy quyền cho người nào khác đến tham gia tố tụng, không có văn bản gửi Tòa án trình bày quan điểm, ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, không cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị Thu N trình bày:

Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 là em gái, em rể của của bà. Thửa đất số 26, tờ bản đồ số 32 tại khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, có diện tích 75.4m² do bà Nguyễn Thị Thu N đứng tên, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 09/10/2020, Giấy chứng nhận số CY 648748, bà N có làm thủ tục ủy quyền cho tặng bà T để vay tiền, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L cập nhật thay đổi chủ sở hữu/chủ sử dụng cho bà Nguyễn Thị Thu T đứng tên vào ngày 23/10/2020.

Trên đất có 01 căn nhà cấp 4, gồm 01 phòng khách, 02 phòng ngủ, công trình nhà vệ sinh và bếp, có kết cấu mái lợp tôn, trần nhựa, tường gạch sơn nước, nền gạch bông, cửa sắt + kính, ngoài ra không còn công trình nào trên đất. Căn nhà này hiện nay do bà N và các con bà đang ở và quản lý gồm: anh Nguyễn Văn V1, chị Nguyễn Thị Kiều N1 và anh Nguyễn Liu An K.

Việc vay tiền của vợ chồng bà T và ông H2 với Ngân hàng cụ thể như thế nào thì bà không biết.

Nay Ngân hàng TMCP Q khởi kiện bà T, ông H2 đòi nợ và đề nghị xử lý tài sản thế chấp, bà N đề nghị Ngân hàng cho bà các các con đứng ra trả nợ thay cho bà T, mỗi tháng trả dần cho Ngân hàng 5.000.000đ đến 7.000.000đ để giữ lại nhà.

Trường hợp Ngân hàng không đồng ý cho bà trả nợ dần và ông H2, bà T không trả được nợ thì Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là nhà, đất nói trên để đảm bảo thi hành khoản nợ của bà T, ông H2 thì bà đề nghị giải quyết theo pháp luật.

* Theo bản tự khai của các anh (chị) Nguyễn Văn V1, chị Nguyễn Thị Kiều N1 và anh Nguyễn Liu An K trình bày:

Các anh chị là con (con ruột, con dâu) của bà N và đang ở trên thửa đất là tài sản thế chấp của bà T, ông H2 tại Ngân hàng Q. Quá trình ở trên đất các anh, chị không có đóng góp gì, nên mọi việc do bà N quyết định. Do các anh chị đều bận đi làm nên xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật tố tụng của các bên đương sự: Nguyên đơn đã thực hiện đúng, bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của pháp luật tố tụng dân sự quy định.

Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Đối với đề nghị của bà N tại phiên tòa về việc bà và các con xin trả nợ dần thay cho bà T nhưng Ngân hàng không đồng ý, việc này bà N có thể thỏa thuận với N2 hàng ở giai đoạn thi hành án khi tiến hành xử lý tài sản bảo đảm. Do đó, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q số tiền là: 1.586.762.636 đồng (Trong đó, nợ gốc 1.066.079.565đ; lãi trong hạn 65.219.074đ; lãi quá hạn 434.049.522đ; phí là 21.414.475đ) và phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.

Trường hợp bà T và ông H2 không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP Q có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp ngày 28/10/2020 để thu hồi nợ.

Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phải chịu các khoản chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xét thấy, bị đơn là bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2, Tòa án đã thực hiện việc thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án đối với bị đơn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Nguyễn Văn V1, chị Nguyễn Thị Kiều N1 và anh Nguyễn Liu An K cùng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự nói trên.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Theo đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (Ngân hàng V2), về việc yêu bị đơn bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải trả khoản tiền vay và lãi suất phát sinh trong Hợp đồng tín dụng. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xét thấy:

Ngày 27/10/2020, Ngân hàng V2 với bà T, ông H2 có ký Hợp đồng tín dụng số: 9698597.20 thỏa thuận về việc khoản vay tín dụng 1.000.000.000 đồng. Ngày 30/10/2020, Ngân hàng V2 đã giải ngân cho bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 vay số tiền 1.000.000.000 đồng theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 6939340.20 ngày 30/10/2020 của bà T, ông H2.

Cùng ngày 30/10/2020, Ngân hàng V2 cũng cho bà T, ông H2 vay số tiền 60.000.000 đồng bằng hình thức mở thẻ tín dụng theo Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản; Loại thẻ: Thẻ tín dụng Travel Elite; hạn mức thẻ: 60.000.000 đồng; lãi suất, phí: Theo bản chấp thuận về điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng V2.

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, mặc dù bị đơn không đến Tòa án làm việc, không có văn bản gửi Tòa án trình bày quan điểm, ý kiến về việc khởi kiện của nguyên đơn, nhưng qua các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng tín dụng, Khế ước nhận nợ, Hợp đồng mở Thẻ tín dụng quốc tế kiêm và sử dụng tài khoản có đầy đủ chữ ký của bị đơn trong các văn bản nêu trên cùng với bên cho vay là Ngân hàng V2. Như vậy, đã có đủ căn cứ xác định bà Nguyễn Thị Thu T, ông Đinh Ngọc H2 có vay tiền của Ngân hàng V2 là có thật. Nội dung thỏa thuận của các bên

được ghi trong Hợp đồng tín dụng số 9698597.20 ngày 27/10/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 30/10/2020 là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017, Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng nên Hợp đồng phát sinh hiệu lực, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 đã trả cho Ngân hàng V2 số tiền tổng cộng là 157.525.869 đồng (trong đó: nợ gốc 10.500.000 đồng, nợ lãi 147.025.209 đồng) thì ngưng không thanh toán và khoản vay đã quá hạn thanh toán kể từ ngày 10/6/2002 và chuyển nợ quá hạn từ ngày 15/9/2022.

Như vậy, bà T, ông H2 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh theo cam kết, thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Căn cứ Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Hợp đồng tín dụng số 9698597.20 ngày 27/10/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 30/10/2020 thì việc khởi kiện đòi nợ của Ngân hàng V2 là có căn cứ.

Tính đến ngày xét xử sơ thẩm (16/7/2024), bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 còn nợ Ngân hàng V2 số tiền là: 1.586.762.636 đồng. Trong đó, khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng số 9698597.20 ngày 27/10/2020 là 1.460.669.788 đồng (Trong đó: nợ gốc 989.500.000 đồng, lãi trong hạn là 65.219.074đ, lãi quá hạn là 405.950.714đ) và khoản nợ Thẻ tín dụng ngày 30/10/2020 là: 126.092.848đ (Trong đó: nợ gốc 76.579.565 đồng, lãi trong hạn 0 đồng, lãi quá hạn là 28.098.808đ, phí là 21.414.475đ).

Từ những phân tích nêu trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V2 về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải trả số tiền nợ nêu trên là có cơ sở, nên chấp nhận.

Về yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán khoản tiền lãi trên số nợ gốc chưa thanh toán, lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 9698597.20 ngày 27/10/2020 và Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày 30/10/2020 kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử (ngày 17/7/2024) cho đến khi bà T, ông H2 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ. Xét thấy, việc các bên thỏa thuận về mức lãi suất trong các hợp đồng nêu trên là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.

[4] Đối với nghĩa vụ chậm thi hành án tiền vay do tổ chức tín dụng cho vay:

Kể từ ngày 17/6/2024, bà T và ông H2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo

từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

[5] Đối với yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Theo Hợp đồng thế chấp số: 8226748.20.601 ngày 28/10/2020, được Phòng C, tỉnh Đồng Nai chứng nhận ngày 28/10/2020 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng V2 và bên thế chấp bà Nguyễn Thị Thu T.

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 32, diện tích 74,4m² tại khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 648749, số vào sổ cấp GCN: CS06078, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 09/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Thu N, được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L cập nhật thay đổi chủ sở hữu/chủ sử dụng sang tên cho bà Nguyễn Thị Thu T ngày 23/10/2020). Tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 28/10/2020.

Tại thời điểm thế chấp, theo Giấy chứng nhận QSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nói trên không có thông tin về tài sản gắn liền với đất, nhưng thực tế trên thửa đất số 26, tờ bản đồ số 32 phường X, thành phố L có 01 căn nhà cấp 4, diện tích 70m², gồm 01 phòng khách, 02 phòng ngủ, công trình nhà vệ sinh và bếp, có kết câu mái lợp tôn, trần nhựa, tường gạch sơn nước, nền gạch bông, cửa sắt + kính, ngoài ra không còn công trình nào trên đất.

Ngày 29/10/2020, bà Nguyễn Thị Thu T có làm văn bản cam kết với Ngân hàng V2 xác nhận toàn bộ tài sản gắn liền với đất nói trên là tài sản riêng thuộc sở hữu của bà T, toàn bộ tài sản không bị tranh chấp và là tài sản bảo đảm, đồng ý cho Ngân hàng V2 được xử lý tài sản gắn liền với đất đồng thời với việc xử lý quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 9 và các quy định khác của Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

Xét thấy, Hợp đồng thế chấp tài sản nêu trên được các bên tự nguyện ký kết, có hình thức, nội dung không trái với các quy định của pháp luật, đã được phòng C, tỉnh Đồng Nai chứng nhận ngày 28/10/2020 và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định. Khi ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, bên thế chấp (bà T) cam kết xác định căn nhà 01 cấp 4 trên đất thuộc sở hữu của bà T và cam kết sử dụng tài sản gắn liền với đất thuộc sở hữu của bà T là tài sản bảo đảm cho khoản nợ. Do đó, Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 8226748.20.601 ngày 28/10/2020 và Văn bản cam kết ngày 29/10/2020 của bà T có giá trị pháp lý và có hiệu lực thi hành đối với các bên. Trường hợp bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm nêu trên để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại các Điều 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 Bộ luật dân sự 2015 và Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 8226748.20.601 ngày 28/10/2020, Văn bản cam kết ngày 29/10/2020 của bà T, nên được chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản bảo đảm, được biết căn nhà trên hiện nay do bà Nguyễn Thị Thu N và các con của bà N gồm: anh Nguyễn Văn V1, chị Nguyễn Thị Kiều N1 và anh Nguyễn Liu An K đang ở và quản lý.

Tại phiên tòa, bà N xác định căn nhà trên trước đây thuộc quyền sở hữu của bà, bà và các con bà ở trong trong căn nhà này từ trước đến nay, do không am hiểu pháp luật và tin tưởng là chị em ruột nên bà ủy quyền và giao toàn bộ giấy tờ đất cho bà T và ký giấy tờ để làm thủ tục sang tên cho bà T vay tiền, còn cụ thể bà T vay tiền bao nhiêu thì bà không biết. Hiện nay bà T và ông H2 đã mất khả năng thanh toán, nay bà N đề nghị Ngân hàng cho bà và các con đứng ra trả nợ thay cho bà T, mỗi tháng trả dần cho Ngân hàng từ 5.000.000đ đến 7.000.000đ để giữ lại nhà, nhưng tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V2 không đồng ý. Xét thấy, việc bà N đề nghị được trả nợ thay cho bà T, ông H2 và xin trả nợ dần thì bà có thể thỏa thuận với Ngân hàng trong giai đoạn thi hành án khi xử lý tài sản bảo đảm, nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 157 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Số tiền này nguyên đơn đã nộp đủ, do đó buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng V2 số tiền trên.

Đối với chi phí thực hiện thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án với số tiền 9.000.000 đồng, Ngân hàng V2 đã bỏ ra để thực hiện việc thông báo nói trên, đây là khoản chi phí liên quan đến việc thu hồi nợ theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng số 9698597.20 ngày 27/10/2020. Do vậy, Ngân hàng V2 yêu cầu bà T và ông H2 có trách nhiệm phải thanh toán lại cho Ngân hàng V2 số tiền trên là có cơ sở, nên chấp nhận.

[7] Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu tại phiên tòa xét thấy phù hợp với các chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên được chấp nhận.

[8] Về án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải chịu 59.602.879 đồng (Năm mươi chín triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, tám trăm bảy mươi chín đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q 23.372.000đ (Hai mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005135 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 157 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng Điều 463, Điều 466; Điều 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi bổ sung năm 2017; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;

- Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Q (V2) đối với bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.

  1. Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền là: 1.586.762.636 đồng (Một tỷ, năm trăm tám mươi sáu triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, sáu trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó: nợ gốc 1.066.079.565đ; lãi trong hạn 65.219.074đ; lãi quá hạn 434.049.522đ; phí là 21.414.475đ.
  2. Kể từ ngày 17/7/2024, bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Trường hợp bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 không trả được nợ hoặc trả không đủ số tiền nợ thì Ngân hàng TMCP Q (V2) có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý, phát mại tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa đất số 26, tờ bản đồ số 32, diện tích 74,4m² tại khu phố T, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai, đã được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 648749 ngày 09/10/2020 cho bà Nguyễn Thị Thu N, số vào sổ cấp GCN: CS06078, đã được cập nhật thay đổi chủ sở hữu/chủ sử dụng cho bà Nguyễn Thị Thu T ngày 23/10/2020 và tài sản gắn liền trên đất là 01 căn nhà cấp 4, diện tích 70m², gồm 01 phòng khách, 02 phòng ngủ, công trình nhà vệ sinh và bếp, có kết cấu mái lợp tôn, trần nhựa, tường gạch sơn nước, nền gạch bông, cửa sắt + kính để thu hồi nợ (Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng
  4. đất số: 8226748.20.601 ngày 28/10/2020 và Văn bản cam kết của bà Nguyễn Thị Thu T ngày 29/10/2020).

    Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 đối với Ngân hàng TMCP Q. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ cho Ngân hàng TMCP Q.

  5. Về chi phí tố tụng: Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
  6. Về chi phí thực hiện việc thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng về việc giải quyết vụ án: Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc H2 phải trả cho Ngân hàng TMCP Q (V2) 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
  7. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Thu T và ông Đinh Ngọc Hà T1 phải chịu 59.602.879 đồng (Năm mươi chín triệu, sáu trăm lẻ hai nghìn, tám trăm bảy mươi chín đồng)
  8. Hoàn trả Ngân hàng TMCP Q (V2) số tiền 23.372.000đ (Hai mươi ba triệu, ba trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0005135 ngày 09/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

  9. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP Q, bà N được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà T, ông H2 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh V1, chị N1 và anh K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ hoặc kể từ ngày quyết định của bản án được đăng, phát trên các phương tiện thông tin đại chúng theo theo quy định của pháp luật.
  10. Về việc thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP Biên Hòa (1);
  • - THADS TP Biên Hòa (1);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Đương sự (2);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Hùng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Chính

Huỳnh Thị Kim Kiên

Trần Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 96/2024/DS-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 96/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB) đối với bà Nguyễn Thị Thu Trinh và ông Đinh Ngọc Hà về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”. 1. Buộc bà Nguyễn Thị Thu Trinh và ông Đinh Ngọc Hà phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam (VIB) số tiền là: 1.586.762.636 đồng (Một tỷ, năm trăm tám mưới sáu triệu, bảy trăm sáu mươi hai nghìn, sáu trăm ba mươi sáu đồng). Trong đó: nợ gốc 1.066.079.565đ; lãi trong hạn 65.219.074đ; lãi quá hạn 434.049.522đ; phí là 21.414.475đ. Kể từ ngày 17/7/2024, bà Nguyễn Thị Thu Trinh và ông Đinh Ngọc Hà còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger