|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ TỈNH QUẢNG NAM Bản án số: 96/2024/HS-ST Ngày 15-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Khôi
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Sơn
2. Bà Nguyễn Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thu Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ tham gia phiên tòa: Ông Lê Doãn Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Phạm Hoài T; sinh ngày: 02-02-2000, tại: huyện Núi Th, tỉnh Quảng N; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn 5, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng N; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: ngư nghiệp; Con ông Phạm B và bà Đỗ Thị Ng; chưa có vợ, con; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú", có mặt.
2. Nguyễn Minh Th, sinh ngày: 20-02-1988, tại: huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Ấp 6A, xã Tân Thạnh Đ, huyện Củ Ch, Thành phố H; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 09/12; nghề nghiệp: sửa xe và buôn bán xe; Con ông Nguyễn Văn Tr và bà Nguyễn Thị Ch; vợ Trần Thị Ngọc Đào; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2021.
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Ngày 03-3-2006, bị Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 30 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” (đã chấp hành xong);
- Ngày 08-7-2010, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 năm tù về tội “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/5/2015, đã chấp hành nộp án phí (đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại nhưng bị hại không có đơn yêu cầu thi hành);
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú", có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Huỳnh Quang S, sinh năm 1965, nơi ĐKHKTT: phường Tân T, thành phố Buôn Ma Th, tỉnh Đắk L. Nơi ở hiện tại: Khu nhà E, Khu bờ sông, đường Nguyễn Lương B, Phú Mỹ H, phường Tân Phú, Quận 7, Thành phố H; vắng mặt.
+ Ông Mai Quốc H – Chủ Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Ph. Địa chỉ: Số 29 Lê L, phường An M, thành phố Tam K, tỉnh Quảng N; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tháng 8 năm 2022, do có nhu cầu mua xe máy đi lại nên Phạm Hoài T sử dụng điện thoại Iphone 6, màu hồng đăng nhập tài khoản facebook có tài khoản Phạm Hoài T (T Gấu) vào mạng xã hội Facebook thì tìm thấy Facebook có tên “Minh Th” của Nguyễn Minh Th đăng thông tin mua bán xe máy nên Phạm Hoài T kết bạn Facebook với Nguyễn Minh Th để trao đổi mua xe qua tin nhắn Facebook. Qua trao đổi T đặt mua của Th 01 (một) chiếc xe mô tô có nhãn hiệu Suzuki RGV, màu xanh với giá 29.700.000 đồng và nhắn tin nói Th làm luôn biển số xe. T nhắn tin facebook hỏi Th “Biển mấy số anh”, Th trả lời “Biển số 5 S (biển số năm số)” và nhắn tin tiếp với T: “Em muốn làm biển số như thế nào gửi qua cho anh”, T nhắn tin facebook gửi biển số 92F1-020.06 cho Th để Th làm biển số và làm giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy cho T.
Quá trình trao đổi mua bán xe, Phạm Hoài T đã chuyển khoản thanh toán đặt cọc mua xe cho Nguyễn Minh Th số tiền 3.700.000 đồng và thêm 1.500.000 đồng (tiền sơn mới lại xe, thỏa thuận thêm giữa T và Th) qua tài khoản ngân hàng 0602335761788 của Nguyễn Minh Th mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Thương Tín, số tiền còn lại là 26.000.000 đồng thanh toán bằng tiền mặt khi nhận xe và giấy chứng nhận đăng ký xe.
Nguyễn Minh Th đăng nhập facebook vào ứng dụng “Chợ Tốt” mua của một người không rõ lai lịch có tài khoản facebook trên ứng dụng “Chợ Tốt” 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki RGV, màu xanh với giá 20.000.000 đồng rồi đem về tân trang sửa chữa lại (đã làm lại số khung số máy của xe) để bán kiếm lời. Sau khi thỏa thuận mua bán xe với T, Nguyễn Minh Th lên mạng xã hội facebook đặt cho một tài khoản facebook (không rõ tên facebook) làm 01 giấy tờ giả đăng ký xe mô tô biển số 92F1-020.06 với giá 1.000.000 đồng, sau đó người này chuyển giấy chứng nhận
đăng ký xe giả có số đăng ký: 184176; tên chủ xe NGUYỄN TẤN THÀNH (địa chỉ: Thôn 3, Tiên Thọ, Tiên Phước, Quảng Nam); nhãn hiệu xe SUZUKI; biển số 92F1-020.06 do Phòng Cảnh sát Giao thông công an tỉnh Quảng Nam cấp ngày 15-10-2016 cùng với biển số xe giả 92F1-020.06 cho Nguyễn Minh Th.
Đến ngày 27-9-2022, Nguyễn Minh Th đã gửi xe mô tô biển số 92F1-020.06 nhãn hiệu Suzuki RGV, và giấy tờ xe giả số đăng ký: 184176, chủ xe Nguyễn Tấn Thành như trên cho Phạm Hoài T bằng dịch vụ xe khách vận chuyển về Quảng Nam. Phạm Hoài T đã nhận được xe mô tô gắn biển số 92F1-020.06 trên và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 184176 tại Ngã tư đường Nguyễn Hoàng – Trần Cao Vân thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), đồng thời giao số tiền 26.000.000 đồng cho lái xe khách vận chuyển để trả cho Nguyễn Minh Th.
Sau khi có được xe, Phạm Hoài T mặc dù biết chiếc xe trên là xe lắp ráp không chính hãng, không thể làm được giấy chứng nhận đăng ký xe theo quy định. Khi mua xe, người bán xe giao xe kèm theo giấy chứng nhận đăng ký xe biển số 92F1-020.06, T biết giấy chứng nhận đăng ký xe trên là giả nhưng vẫn sử dụng vì mục đích sử dụng để đề phòng khi tham gia giao thông bị cơ quan Công an kiểm tra xe và giấy tờ xe. T vẫn biết khi bị cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện sẽ bị thu xe và giấy tờ xe nhưng T vẫn sử dụng để đi lại.
Trong quá trình sử dụng xe mô tô trên, vào cuối năm 2022, Phạm Hoài T đã có hai lần mang xe và giấy chứng nhận đăng ký xe gắn biển số 92F1-020.06 đến Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát, địa chỉ: Số 29 Lê Lợi, phường An Mỹ, thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam do Mai Quốc Hợp làm quản lý để cầm cố lấy tiền sử dụng mục đích cá nhân. Lần thứ nhất, cầm cố là vào khoảng tháng 11/2022 (đã trả tiền và lấy xe), lần thứ hai là tháng 12/2022, lần thứ 2 cầm cố với số tiền 15.000.000 đồng. Đến ngày 23-12-2022, thì Phòng Cảnh sát QLHC về TTXH Công an tỉnh Quảng Nam kiểm tra Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát nghi vấn giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy ghi biển số 92F1-020.06 do Phạm Hoài T cầm cố tại cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát là giả nên tạm giữ và chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ xử lý theo quy định pháp luật. Phạm Hoài T đã trả lại cho anh Mai Quốc Hợp quản lý Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát số tiền 15.000.000 đồng mà T cầm cố xe tại Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát.
Cơ quan điều tra tiến hành cho anh Mai Quốc Hợp nhận dạng qua ảnh đối với Phạm Hoài T thì anh Hợp nhận ra và xác định người mang xe mô tô gắn biển số 92F1- 020.06 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 184176, ghi biển số 92F1-020.06 đến cầm cố tại Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát hai lần vào tháng 11/2022 và tháng 12/2022 chính là Phạm Hoài T.
* Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đã tạm giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, màn hình bị nứt của Phạm Hoài T.
* Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đã tiến hành trích xuất 57 trang hình ảnh chụp màn hình điện thoại của Phạm Hoài T, được in trên giấy A4 thể hiện nội dung trên tin nhắn facebook giữa tài khoản facebook “Phạm Hoài T (T gấu)” với tài khoản “Minh Th” bán xe cho anh T.
* Tại Kết luận giám định số 12/KL-KTHS(TL) ngày 27/02/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Nam ban hành Kết luận:
- Phôi tài liệu cần giám định ký hiệu A so với phôi của các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải được in cùng phương pháp in.
- Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “CÔNG AN TỈNH QUẢNG NAM*PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ ĐƯỜNG SẮT* trên tài liệu cần giám định ký hiệu A không phải do con dấu có dấu hình tròn màu đỏ mang nội dung “CỘNG HÒA XHCN VIỆT NAM*CÔNG AN TỈNH QUẢNG NAM*” trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 đóng ra.
- Chữ ký đứng tên Phan Thanh Hồng trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Phan Thanh Hồng trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một người ký ra.
Cáo trạng số 12/CT-VKSTK-HS ngày 29-12-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ truy tố các bị cáo Nguyễn Minh Th, Phạm Hoài T về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh Th, Phạm Hoài T tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Hoài T từ 06 (sáu) đến 09 (chín) tháng tù.
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Th từ 09 (chín) đến 12 (mười hai) tháng tù.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- + 01 (một) xe mô tô có gắn biển số 92F1-020.06;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, màn hình bị nứt.
- Đề nghị truy thu của bị cáo Nguyễn Minh Th số tiền thu lợi bất chính là 6.000.000 đồng.
- Tiếp tục lưu kèm hồ sơ vụ án để đảm bảo giải quyết vụ án:
- + 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 184176 mang tên Nguyễn Tấn Thành biển số 92F1-020.06; số máy F124139229; số khung 120UOXA39229.
Tại lời nói sau cùng của bị cáo:
Bị cáo Phạm Hoài T: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo Nguyễn Minh Th: Bị cáo biết lỗi, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm được về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tam Kỳ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình T, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Xét thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung:
[2.1] Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được:
Vào tháng 8 năm 2022, thông qua mạng xã hội facebook, bị cáo Phạm Hoài T đã đặt bị cáo Nguyễn Minh Th lắp ráp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Suzuki RGV, biển số 92F1-020.06 với số tiền 29.700.000 (hai mươi chín triệu, bảy trăm nghìn) đồng. Bị cáo Nguyễn Minh Th đã lên mạng xã hội facebook đặt làm giả biển số xe 92F1-020.06 và giấy chứng nhận đăng ký xe máy số 184176, ghi biển số 92F1-020.06, tên chủ xe NGUYỄN TẤN THÀNH và mua xe mô nhãn hiệu Suzuki RGV trên ứng dụng “Chợ Tốt”, rồi bán lại cho Phạm Hoài T với số tiền 29.700.000 đồng. Trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Phạm Hoài T khai biết rõ xe trên là xe lắp ráp và giấy tờ xe là giả nhưng T sử dụng giấy tờ xe giả và xe trên để đi lại và mang đến cầm cố lấy tiền tiêu xài tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam thì bị Công an phát hiện.
Hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Hoài T, Nguyễn Minh Th gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự như bản cáo trạng và quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tam Kỳ đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trong vụ án này, ngoài hành vi phạm tội nêu trên thì bị cáo Phạm Hoài T dù biết là chiếc xe máy T mua của bị cáo Th và giấy tờ xe là giả nhưng bị cáo T đã mang xe đi cầm cố cho người khác lấy tiền tiêu xài. Hành vi nêu trên của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung về hành vi này theo Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung số 03/2024/HSST-QĐ ngày 10-4-2024 nhưng không được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử kiến nghị tiếp tục điều tra làm rõ hành vi cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị cáo Phạm Hoài T theo quy định pháp luật.
[2.2] Xét tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy:
Trật tự quản lý hành chính nhà nước được mọi công dân phải chấp hành nghiêm. Mọi hành vi xâm phạm bất hợp pháp đến trật tự quản lý hành chính nhà nước đều bị xử lý nghiêm minh. Các bị cáo Th, T có đủ điều kiện để nhận thức được điều đó. Thế nhưng các bị cáo đã sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan tổ
chức nhằm vào mục đích cá nhân. Hành vi đó của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính nhà nước. Do vậy, cần phải có một mức án nghiêm khắc tương xứng đối với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Trong vụ án này, bị cáo T là người đặt mua tài sản và làm giấy tờ giả để sử dụng, khởi nguồn sự việc xuất phát từ bị cáo. Bị cáo Th là người nhận giao kết, đặt làm và hỏi mua để bán lại cho bị cáo T. Bị cáo T có vai trò chính nhưng có nhân thân tốt. Bị cáo Th có vai trò giúp sức cho bị cáo T nhưng có nhân thân xấu nên cần quyết định mức hình phạt đối với hai bị cáo ngang bằng nhau là phù hợp.
[2.3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
- Tình tiết tăng nặng: không.
- Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, bị cáo Phạm Hoài T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Minh Th đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; gia đình bị cáo Nguyễn Minh Th có công cách mạng (bị cáo có bà nội là Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng) theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[2.4] Về xử lý vật chứng, vấn đề liên quan khác:
- Về xử lý vật chứng:
- - Đối với 01 xe mô tô có gắn biển số 92F1-020.06 là tang vật của vụ án do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước;
- - Đối với 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 184176 mang tên Nguyễn Tấn Thành biển số 92F1-020.06; số máy F124139229; số khung 120UOXA39229 (ký hiệu A) cần tiếp tục lưu kèm hồ sơ để đảm bảo giải quyết vụ án;
- - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, màn hình bị nứt của Phạm Hoài T, T sử dụng vào việc phạm tội do đó cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Tại phiên toà, bị cáo Th khai trong vụ án này bị cáo thu lợi bất chính với số tiền từ 5.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng là phù hợp với lời khai cũng như các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, cần truy thu nộp ngân sách nhà nước đối với số tiền thu lợi bất chính của bị cáo Th là 6.000.000 đồng.
- Những vấn đề liên quan trong vụ án:
- Đối với xe mô tô biển số 43KM-7008: Kết quả xác minh tại Công an Quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xác định: Xe mô tô biển số 43KM-7008 có nhãn hiệu: Honda; Số loại: C50/82; Số máy C50E0568075; Số khung: C500567905 hiện nay đang đứng tên chủ sở hữu là ông Huỳnh Quốc Nam đăng ký ngày 07/6/2010 tại
Đội Cảnh sát giao thông – Trật tự Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Xe mô tô trên đăng ký lần đầu ngày 19-12-1995 tại Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng (cũ). Xe mô tô trên được mua bán qua 04 đời chủ sở hữu, ông Huỳnh Quốc Nam là đời chủ sở hữu thứ 4. Hiện nay ông Huỳnh Quốc Nam là chủ sở hữu đối với chiếc xe trên. Tuy nhiên, các lần sang tên, đổi chủ lực lượng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Đà Nẵng không cập nhập dữ liệu trên hệ thống nên khi tra cứu thông tin không trùng với thông tin trên giấy chứng nhận đăng ký xe chủ xe hiện tại là ông Huỳnh Quốc Nam. Chiếc xe này ông Nam cho ông Huỳnh Quang Sơn sử dụng, toàn quyền định đoạt. Ông Huỳnh Quang Sơn là người mang xe trên đến cầm cố tại Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đã chuyển vụ việc và 01 xe máy biển số 43KM-7008, số máy C50E-0568075, số khung C50-0567905, nhãn hiệu Honda C50 và giấy tờ xe đến Đội CSQL hành chính về trật tự xã hội Công an thành phố Tam Kỳ để giải quyết theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- Đối với Cơ sở kinh doanh cầm đồ Đại Phát có hành vi vi phạm hành chính “nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu người khác nhưng không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố”, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ đã chuyển Công an thành phố Tam Kỳ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động Nguyễn Minh Th sử dụng nhắn tin qua facebook đặt làm giấy tờ xe giả và nhắn tin trao đổi mua bán xe giấy tờ giả với Phạm Hoài T, Th đã làm mất nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố Tam Kỳ không thu hồi được nên không đề cập xử lý đối với chiếc điện thoại này.
- Đối với “người bán xe mô tô” cho Nguyễn Minh Th trên ứng dụng “Chợ tốt” và “người bán 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 184176 mang tên Nguyễn Tấn Thành biển số 92F1-020.06, số máy F124139229, số khung 120UOXA39229 và biển số 92F1-020.06" cho Nguyễn Minh Th, do tài khoản facebook “Minh Th” của Nguyễn Minh Th dùng để nhắn tin với tài khoản facebook người bán xe trên ứng dụng “Chợ tốt” và với tài khoản facebook người bán giấy tờ xe và biển số xe trên đã bị mất, đồng thời Nguyễn Minh Th không nhớ tài khoản facebook của người bán xe cho Th trên ứng dụng “Chợ tốt” và tài khoản facebook người bán giấy tờ xe và biển số xe trên cho Th nên không có cơ sở để xử lý đối với người bán xe mô tô và người bán giấy tờ xe giả và biển số giả cho Nguyễn Minh Th.
- Đối với người thanh niên giao giấy tờ xe và biển số xe giả cho Nguyễn Minh Th và xe khách mà Nguyễn Minh Th gửi xe mô tô và giấy tờ xe ra cho Phạm Hoài
T, do Nguyễn Minh Th không biết người giao hàng cho Th là ai và không nhớ tên địa chỉ nhà xe mà Th gửi xe và giấy tờ xe giả ra cho T nên không đề cập xử lý.
[2.5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Phạm Hoài T, Nguyễn Minh Th phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức”.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 341, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Hoài T 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
- Căn cứ: Khoản 1 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh Th 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày đi thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:
- + 01 (một) xe mô tô có gắn biển số 92F1-020.06;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, màu hồng, màn hình bị nứt.
- - Truy thu nộp ngân sách nhà nước của bị cáo Nguyễn Minh Th số tiền thu lợi bất chính là 6.000.000 (sáu triệu) đồng.
- (Hiện vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tam Kỳ theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 04-01-2024).
- Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Phạm Hoài T, Nguyễn Minh Th mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Kiến nghị tiếp tục điều tra làm rõ hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm của bị cáo Phạm Hoài T về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Các bị cáo, đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 9 luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Khôi |
Bản án số 96/2024/HS-ST ngày 15/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM về sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức
- Số bản án: 96/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ - TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xét xử
